Bộ sưu tập Borgia Tonchinensis

 


TỪ AN NAM ĐẾN VATICAN: THỦ BẢN VÀ ẤN PHẨM CÔNG GIÁO VIỆT NAM THỜI KỲ ĐẦU TRONG BỘ SƯU TẬP BORGIA TONCHINENSIS
Bộ sưu tập Borg.tonch nằm trong thư viện Tòa Thánh Vatican và đã được số hóa trên Thư viện Số Vatican (Vatican Digital Library) trong những năm gần đây, là một nỗ lực lưu giữ 41 thủ bản có nội dung liên quan đến lịch sử và văn hóa của cộng đồng giáo dân Công giáo người Việt Nam ở cả hai vùng truyền giáo Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài. Tên của bộ sưu tập, Borg.tonch, là viết tắt của tên đầy đủ trong tiếng Latinh là Borgia Tonchinensis. Trong đó, Borgia là để chỉ người đã dành nhiều công sức sưu tập các thủ bản này, và Tonchinensis là để chỉ ngôn ngữ tiếng Tonkin (tiếng Đàng Ngoài, tiếng An Nam, tiếng Việt).
Bộ sưu tập này được đặt tên theo Đức Hồng y Stefano Borgia (1731-1804), một nhà thần học, khảo cổ học, sử học và sưu tầm gia người Ý. Ông là hậu duệ của gia tộc Borgia lừng danh và giàu có, nổi tiếng với Đức Giáo hoàng Alexandre VI và những đứa con của ông. Qua việc tận dụng nguồn tài lực dồi dào của dòng họ và chức vụ Thư ký Thánh bộ Truyền giáo Đức Tin (Propaganda Fide) của Tòa Thánh trong 19 năm, Đức Hồng y Borgia đã bỏ ra một lượng tiền lớn để sưu tập hàng nghìn thủ bản của nhiều ngôn ngữ trên khắp thế giới. Trong khoảng thời gian này, các thủ bản trong bộ sưu tập Borgia Tonchinensis cũng đã đến tay ông nhờ vào công cuộc soạn thảo của các nhà truyền giáo Dòng Đa Minh, Hội Thừa sai Paris ở An Nam và sự đóng góp của Thầy cả Philiphê do Rosario Nguyễn Văn Bỉnh và các bạn trong sứ đoàn Garasa ở Lisboa. Sau khi Đức Hồng y Borgia qua đời, các thủ bản có liên quan tới đạo Công giáo đều được đưa vào bộ sưu tập Borgia và trưng bày tại Viện Bảo tàng Borgiano tại Vatican. Đến giữa thế kỷ thứ XIX, các thủ bản trong viện bảo tàng này được chuyển sang quyền sở hữu của Thư viện Tòa Thánh Vatican, nơi chúng vẫn còn được lưu trữ cho đến ngày nay. Đến năm 2021, các thủ bản trong bộ sưu tập Borg.tonch đều được số hóa và lưu trữ trên Thư viện Số Vatican để các độc giả có thể tự do tìm hiểu.
Bộ sưu tập Borgia Tonchinensis có thể được phân loại sâu hơn trên nhiều phương diện khác nhau. Về phương diện ngôn ngữ, nó không chỉ bao gồm các sách được viết bằng tiếng Việt mà còn có nhiều sách viết bằng tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latinh xen kẽ với nhau. Về phương diện văn tự, đa phần các thủ bản được viết bằng chữ cái Latinh, với khoảng 10 thủ bản khác được viết bằng chữ Nôm. Về phương diện tác giả, phần lớn các sách trong bộ sưu tập là đóng góp lớn của Thầy cả Philiphê do Rosario Nguyễn Văn Bỉnh (1759-1833) và ba bạn đồng hành trong sứ đoàn Garasa tại Lisboa, Bồ Đào Nha. Họ là những người đại diện cuối cùng của truyền thống Công giáo của các giáo dân Dòng Tên tại Việt Nam. Số ít còn lại trong bộ sưu tập là đóng góp của các nhà truyền giáo trong Hội Thừa sai Paris ở Việt Nam và Dòng Đa Minh ở địa hạt Đông Đàng Ngoài (phía đông sông Hồng ngày nay). Về phương diện nội dung, các thủ bản rất đa dạng trong chủ đề, từ truyện sử ký về hoạt động truyền giáo ở Việt Nam, truyện các thánh Công giáo, sách giáo lý, sách kinh nguyện, sách về các việc sùng kính đạo đức, truyện Kinh Thánh, đến từ điển, thư từ qua lại giữa hàng giáo sĩ và các giáo dân, thơ phú, tiểu sử và hồi ký. Về phương diện hình thức xuất bản, đa phần các thủ bản là sản phẩm chép tay từ Thầy cả Bỉnh, nhưng cũng có khá nhiều sách được in ấn tại Việt Nam, sau đó được chuyển đến Roma qua sự sắp xếp của Thánh bộ Truyền giáo Đức Tin.
Các thủ bản trong bộ sưu tập Borgia Tonchinensis cho ta thấy sự kết nối vượt trội của văn hóa Việt Nam với thế giới trong thế kỷ XVII, một thời kỳ đầy những biến động toàn cầu được tạo ra bởi thời đại hàng hải. Trong những thủ bản này ta có thể bắt gặp câu chuyện của những người Việt Nam phải rơi vào cảnh tha hương nơi xứ người, những nỗ lực kết nối nước An Nam với thế giới của các thừa sai phương Tây, những tình tiết về lịch sử Việt Nam được thụât lại dưới góc nhìn của các người dân sống trong thời kỳ An Nam còn bị chia cắt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài. Bộ sưu tập cũng sở hữu giá trị rất to lớn vì nó đã lưu giữ những hồi ký và tác phẩm của Philiphê do Rosario Nguyễn Văn Bỉnh, người được nhiều nhà nghiên cứu coi như nhà văn viết truyện bằng chữ Quốc ngữ sớm nhất Việt Nam, cùng nhiều tác phẩm chữ Nôm của ông cũng có giá trị tham khảo cho sự phát triển của chữ viết tiếng Việt đương thời. Nhiều tác phẩm Công giáo Việt Nam nổi tiếng khác cũng chỉ được lưu giữ nhờ vào bộ sưu tập Borgia Tonchinensis, tiêu biểu như cuốn "Dũng Lý Hộ Thần" của Thừa sai Girolamo Maiorica và "Truyện Evangelio cùng Actum" của các Thầy cả trong Hội Thừa sai Paris.
Với việc bộ sưu tập Borgia Tonchinensis một lần nữa được giới thiệu với bạn đọc trên nền tảng Digitizing Việt Nam dưới tên Bộ sưu tập Thủ bản và Ấn phẩm Công giáo Việt Nam thời kỳ đầu, chúng tôi hy vọng rằng các nhà nghiên cứu và học giả trong lĩnh vực Việt Nam học có thể tận dụng nguồn tư liệu quý giá này trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả việc tìm hiểu thêm về vị trí của người Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa rộng khắp vào thời kỳ cận đại.
👉
Xem Bộ sưu tập Thủ bản và Ấn phẩm Công giáo Việt Nam thời kỳ đầu trên Digitizing Việt Nam:

Thư chung của Đức Thầy Guillaume Piguel gửi cho các bổn đạo Đàng Trong

- Thủ bản Borg.tonch.36

Dưới đây là thư chung của Đức Thầy Guillaume Piguel, MEP (1722-1771) là Đại diện Tông Toà địa hạt Đàng Trong từ năm 1762 đến 1771, gửi cho các bổn đạo Đàng Trong và răn dạy họ những sự về 7 phép Bí tích, 10 điều răn trong đạo, 6 điều răn Hội Thánh dạy cùng công bố lệnh từ Đức Giáo hoàng cấm tục lạy quan tài của người Đàng Trong. Đức Thầy Piguel là người tiền nhiệm của Đức Thầy Pierre Pigneau (Bá Đa Lộc), MEP sau này.
—- Joseph Xavier Nguyễn Nam phiên chuyển sang quốc ngữ
Thư tay được viết bằng chữ Nôm. Trong quá trình đọc giải có nhiều sai sót khó tránh khỏi, mong mọi người cùng giúp sức tra cứu để sửa chữ cho lời văn chính xác hơn.



Instructio Pastoralis Illustrissimi Domini Guillelmi Piguel, Episcopi Canathensis, nec non Vicarii Apostolici Cocincinae, Cambodicae et Cianpae, ad omnes Christianos Cocinchinenses, quibus docet etiam prohibitas esse, ex decreto Sanctissimi Pontificis, genuflexiones atque prostrationes coram solis sepulcris defunctorum factas. Publicata fuit in Regno Cocinchinae, die 24 Maii, festivitate Pentecostes, Anno Domini 1769.
[Huấn thị Mục vụ của Đức Thầy khả kính Guillaume Piguel, Giám mục Canatha, đồng thời là Đại diện Tông Tòa Đàng Trong, Chân Lạp và Chiêm Thành, gửi đến toàn thể các bổn đạo xứ Đàng Trong; trong đó ngài cũng dạy rằng, chiếu theo sắc lệnh của Đức thánh Phapha, việc quỳ gối và phủ phục trước quan tài của người đã qua đời cũng bị cấm. Huấn thị được công bố tại Vương quốc Đàng Trong, ngày 24 tháng 5, nhằm lễ trọng Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, năm Chúa giáng sinh 1769.]



Thầy cả Vít-vồ [Obispo: Giám mục] Cô-li-mô [Guillem] Ca-na-ta-nên-xi [Canathensis] Vi-ca-ri-ô A-vô-xi-tô-li-cô [Vicario Apostolico: Giám quản Tông tòa] chăn giữ nước An Nam, Cao Miên cùng Thuận Thành [chỉ Chăm Pa] v..v…
Lời thăm các con rất yêu thay thảy được hay. Vả tự thánh ý định phần cho Thầy lìa khỏi chúng con đến nay. Ôn kể đã chầy ngày. Song ơ các con mình Thầy dầu xa cách chúng con. Song le lòng nào có cách. Vì chưng trong mọi khi cầu nguyện. Hằng nhớ đến các con liên. Các con hãy có ý mà xem sự Thầy lo lắng là thể nào. Có một Đức Chúa Trời là đấng thấu biết mọi lòng người. Thì đã soi tỏ sự phân rẽ. Nay làm cho Thầy đau đớn là dường nào. Nhưng mà nói thật nếu chẳng có lòng kíp trông trở lại thân các con sao. Ắt là chẳng có lòng nào mà lại rời khỏi chúng con chóng khai. Vả những tự năm trước ơn Chúa rất lòng lành. Thì Thầy đã ở cùng chúng con mà khuyên bảo nhiều sự. Song le vì chẳng có ghi chép. Nên tưởng các con chẳng còn nhớ xiết. Vậy có nhiều sự mới cùng đáp đối hằng dấy trong chúng con liên. Vả đấng Vít-vồ thì chẳng khả khi nào rảnh khuây giảng dạy lời Đức Chúa Trời. Ắt là chưng trong thuở ly tao [biệt ly buồn bã] bứt sáp này. Nên phải phóng khuyên lo giữ cho các con. Được nỗi nhiều đường công lý chính. Là những sự các con đã từng giữ quá nhiều phép các đấng Bề trên thuở trước. Bây giờ Thầy khả than dài mà nói về sự này. Là có kẻ nữ bỏ đạo ý thật là đạo có một mà thôi. Lại còn nhiều kẻ trót yếu lòng bằng con trẻ. Phiêu ngã nhiều lời hoặc uổng [mê hoặc tà ác] thế thì. Chửa được vững yên một mối. Nên Thầy định giải những sự nhiệm cần trong đạo dạy…


[1v]
… cho các con được vững lòng tin. Vậy các con hãy chớ lấy những lời này. Chẳng khả xem như lời người thế gian làm gì. Song le phải xem như lời Đức Chúa Giê-su đã thương đến mà nói cùng chúng con vậy. Vì chưng kẻ nào nghe lời ta dạy dỗ. Thì kẻ ấy thật mình đã biết nghe lời Đức Chúa Giê-su mà chớ. Song le là bảo các con một hai sự trước hết thật thì tốt hơn. Vì là nghe có một hai người biện [biện là chức thư ký trong các họ đạo]. Sao dám tiếm đoạt cho mình quyền sửa trị. Đấng Sa-sê-do-tê Mi-xi-ô-na-rê-ô [Sacerdote Missionario: Thầy cả thừa sai] . Và Dòng phô lời các Thầy. Mà cử thố [bắt tay làm việc] nhiều sự nhiều ý riêng mình. Vậy nay muốn sửa cho nên thứ tự. Nhiều phép thánh Y-kê-rê-xa [Ireja: Hội Thánh] Thì ta lại khuyên cùng dạy hết mọi người. Tự nay về sau phải lấy lòng khiêm nhường chịu luỵ. Những đấng giúp việc Đức Chúa Trời. Cùng chẳng nên ngang ngửa chống trả mình người. Nhược bằng có Thầy nào đến xứ nào. Mà hoặc là người chửa quen phong hóa. Mà anh em có thấy sự gì e thiệt lòng đến bổn đạo chăng. Thì phải thưa người cho được hay sự ấy. Bằng nên đổi thì người sẽ liệu. Bằng chẳng nên thì ai nấy điều phải vâng thửa mình người. Sau nữa Thầy tưởng có ích hơn cho anh em. Và phần riêng Thầy nữa. Chẳng lọ là người nào. Hoặc là trùm biện hay là bổn đạo đến rửa tội. Mà trước chẳng xét qua một ít. Mà sự này ta định chẳng những là có ích vậy mà thôi. Song le cũng là việc cần kíp nữa. Ấy vậy nên ta khuyên mỗi một Thầy Mi-xi-ô-na-rê-ô. Phải giữ sự này cho ngặt. Mà bằng sau có thế như vậy. Thì ta cũng phải làm một mực ấy chẳng sai. Những sự bổn đạo phải biết. Mà để thì ta trước qua vậy cho ai nấy điều hay. Nhưng mà sau chia phần mọi điều khác. Thì chúng con hãy ký giữ lấy lời này. Là tìm kiếm một Giê-su Khi-ri-xi-tô. Là đấng đã chịu đóng đanh trên


[2r]
cây Câu-rút. Mà bởi tên rất trọng này thì ta sẽ được rỗi linh hồn mà chớ. Vậy bởi vì để nói về mỗi một phép Sa-ca-ra-men-tô [Sacramento: Bí tích]. Cho nên phải giải tính cùng sức cho minh bạch. Quả thật mỗi người điều được hiểu thấu. Những phần riêng ấy là dường nào. Mà phép Sa-ca-ra-men-tô Chúa đã lập ra dấu bề ngoài. Mà chỉ ơn linh thiêng bề trong. Lại làm cho ta nên thánh. Mà những phép này trong thánh Y-kê-rê-xa Ca-tô-li-ca [Ecclesia Catholica: Giáo hội Công giáo]. Thật là có bảy mà thôi.
Thứ nhất gọi là phép Rửa tội. Phép này rất cần vội cho ta. Vì là như cửa cho ta được chịu các phép Sa-ca-ra-men-tô khác. Mà một phen nước làm cho ta được sinh lại trong cách linh thiêng. Cùng được khỏi mọi tội lỗi. Mà nên làm con mày Đức Chúa Trời. Lại được phần của cha thật nước Thiên đàng chẳng cùng. Mà trong phép này thật được ta đáng kinh sợ. Cùng hòng khen sự rất nhân từ khôn khéo Chúa ta. Vì Người đã biết trong phép này rất ích cho mỗi một người phải chịu. Cho nên Người dùng mạch nước lã là giống khắp mọi nơi điều có. Mà lập phép này cũng muốn cho ai nấy điều được làm phép ấy nữa. Vậy các biện bõ [ông biện và ông bõ là hai chức hành chính trong các họ đạo] cùng bổn đạo khi gấp chốc thì điều được làm phép này. Nhưng mà phải đọc lời rửa tội cho rõ ràng như thể này rằng: "Tao rửa mày nhân danh Cha. Và Con. Và Xi-phi-ri-tô Sang-tô [Spirito Santo: Đức Chúa Thánh Thần]". Để cho những kẻ gần đó điều được nghe lời mình đọc. Mà khi đọc lời này tay cũng phải trút nước trong một trật ấy. Đoạn khi đã tử tế xét tìm mọi sự rồi. Mà lòng có nghi ngại chửa biết phép rửa tội ấy…


[2v]
… đã nên cùng chẳng. Thì phải dùng những lời sau này. Mà rửa cho kẻ ấy như thể này rằng: "Nếu mày chịu phép rửa tội chửa nên. Thì tao rửa mày. Nhân danh Cha. Và Con. Và Xi-phi-ri-tô Sang-tô". Song le phải biết ai rửa tội cách này. Thì phải xem xét cho cẩn thận. Bởi vì sức cùng tính dấu thiêng liêng. Đã ấn vào trong linh hồn. Thì chẳng có lẽ nào mà chịu phép ấy lại nữa. Ấy vậy phép cực trọng này. Cho nên hệ là ai giữ đạo mà chịu phép rửa tội. Thì phải biết những sự mầu nhiệm lý chính ta phải tin. Như thể sự Đức Chúa Trời Ba Ngôi cùng Ngôi Thứ Hai ra đời làm người chuộc loài người ta cùng kinh Lạy Cha, kinh A-ve, kinh Tin Kính cùng mười sự răn và sáu sự răn cùng kinh Tin Cậy Kính Mến thì phải tin thật. Hệ là kẻ lành thì được phần thưởng vô cùng trên nước Thiên đàng và những kẻ dữ là kẻ chẳng trở lại ăn năn tội cho nên thì phải sa địa ngục chịu khốn nạn vô cùng mà được bấy nhiêu sự rồi thì tốt hơn là phải biết kinh Nữ Vương cùng kinh Cáo Mình xưng tội và các kinh khác quen đọc mà cho được xưng tội chịu lễ. Hệ là đã hay bấy nhiêu kinh ấy chẳng phải là việc vội gì cho kẻ chịu phép rửa tội. Nhưng mà ai chửa thuộc những kinh ấy thì cũng chửa khả rửa tội vì chưng như đã tường thấy nhiều người khi chịu phép rửa tội đoạn thì liền hóa làm biếng lễ này chẳng muốn học. Mà những biện bõ chẳng ai được phép rửa tội cho kẻ lớn dầu mà thuộc bấy nhiêu điều ấy thì mặc lòng hoặc là có khi lâm chung gấp chốc thì mới được mà thôi. Mà khi ấy cũng phải có một hai người biện chứng xem việc ấy hay là chẳng có thì cũng phải có một hai người trưởng lão giữ đạo chín chắn sẽ xem xét sự ấy là dường nào. Mà…


[3r]
… lại khi có Thầy ở gần ước có thế mà rước người được thì dầu mà trẻ đồng nhi mặc lòng mà trùm biện cũng chẳng được rửa tội. Song le khi không thì trùm hay là biện mới được rửa. Nhưng mà cũng phải có chứng sự ấy và phải thủ ký một tờ thể này rằng: "Tôi là trùm mỗ, hay là biện mỗ, vâng phép thánh Y-kê-rê-xa rửa tội cho trẻ đồng nhi mỗ danh mỗ hiệu tư niên tư nguyệt tư nhật". Được cho biết trẻ ấy đã chịu phép rửa tội nên mà tờ ấy thì phải giao lại cho cha mẹ giữ. Song le lại phải biết có khi lâm cơ gấp chốc thì những sự này chẳng phải giữ đâu.
Thứ hai là Xức Đầu. Hệ là ai muốn chịu phép này thì chẳng những có lòng tin kính mà thôi song le cũng phải có lòng ăn năn đau đớn vì mỗi tội trọng mình đã xưng ngày trước. Mà phép này chẳng phải là việc vội mà việc này làm cho mỗi một người thì được rỗi linh hồn. Song le bởi phép này làm ích trọng cho ta và được chịu một lần mà thôi. Cho nên ai nấy chửa trễ nãi trong việc ấy làm gì. Mà phép này có một Đức Vít-vồ được làm mà thôi. Vả lại bởi phép Sa-ca-ra-men-tô này thì trổ nên vải trái rẫy đầy làm cho ta nên lính mạnh Đức Chúa Giê-su nhất là trong thời lộng cấm này cho được xưng danh Chúa Giê-su Khi-ri-xi-tô ra trước mặt thiên hạ.
Thứ ba là phép Giải Tội. Phép này làm cho kẻ có vết tích trong linh hồn là tội lỗi được nên lành. Đã gọi là tấm ván thứ hai sau


[3v]
phép Rửa Tội cho kẻ đuối đắm giữa biển là ngã phải tội lỗi được nương vịn mà vào bờ. Vậy phép này có hai phần.
– Một là ăn năn tội trong lòng đau đớn cho thật vì những tội lỗi đã phạm và hết lòng ghét bỏ. Mà sự đau đớn này chớ nghĩ rằng ngũ quan tứ thể ta biết được làm gì. Song le nó làm cho lòng ta vốn xưa kiêu ngạo cứng cỏi rầy nên khiêm nhường dịu dàng trở lại mà đi đàng công chính trước mặt Chúa Deu [Deus: Chúa Trời].
– Hai là xưng tội là cáo mình vì mỗi một lỗi đã phạm cùng Thầy cho thật thà tỏ rõ. Mà Thầy có phép giải cho và biết mình thể nào thì phải thưa thể ấy thật thì rằng thật hồ nghi thì rằng hồ nghi.
Sau nữa Thầy sẽ kể đây những kẻ nếu chẳng có lòng chừa cãi khắc kỷ phục lễ thì chẳng khả đến Tòa Giải Tội làm gì.
– Một là kẻ giận dữ ghen ghét nghịch cùng anh em mình mà chửa có giải hòa cùng nhau.
– Hai là kẻ chửa biết sự mầu nhiệm chính phải tin cùng những kinh chửa biết mà chẳng âu lo cần mẫn học hành cho thuộc.
– Ba là những người trễ nãi chẳng hay giáo huấn dạy dỗ con cái tôi tá cùng môn đệ mình cho biết niệm kính Chúa yêu người.
– Bốn là những kẻ rối vợ rối chồng chẳng vâng dõi luật thánh Y-kê-rê-xa dạy mà lấy vợ chồng ngoài. Và cha mẹ lại cưới gả con cho kẻ ngoài. Bằng muốn cho khỏi sự rối ấy trước thì dạy những kẻ ấy được biết đạo thánh Đức Chúa Trời được cho nó trở lại đường công lẽ chính mà…


[4r]
… chịu ơn trong phép nhất phu nhất phụ cho nên. Bằng nó chẳng nghe thì chẳng nên hòa hợp cùng nó. Ví bằng chẳng có lẽ mà phân rẽ nhau thì phải thưa cùng Thầy Mi-xi-ô-na-rê-ô nào là đấng xét đoán sự ấy mà đường nào tiện thì người sẽ liệu dùng cho. Lại những kẻ có ý mà chuộc được con mình khỏi thiếp tôi tá kẻ ngoài mà chẳng làm.
– Năm là những kẻ vợ chồng mà phân rẽ bỏ nhau ở phân ly xa cách mà muốn cho xong thì phải thưa cùng Thầy Mi-xi-ô-na-ri-ô. Bằng chẳng có Thầy thì phải ngỏ cầu cùng biện bõ nào được xem xét sự ấy cho minh bạch.
– Sáu là những kẻ chối đạo buộc đóng phạm ảnh cùng các việc khác như vậy cùng khinh dễ phép đạo mà làm. Bằng có lo lắng đến phần rối linh hồn thì trước hết phải xin cùng anh em cầu xin tha cho mình vì đã làm gương xấu. Sau phải hết lòng làm việc đền tội thì lại rất đáng cho những kẻ ấy mà làm việc đền tội cho đến trọn đời. Để cho được nhớ đến tội cực trọng ấy liên.
– Bảy là những kẻ đặt nợ ăn lời chẳng cứ phép công bằng hay là làm chước mốc gì khác cho được hà hiếp lấy của người mà muốn cho khỏi rối. Mà lại khi có lẽ trả được thì phải trả cho hết vì có lời ông thánh Âu-gu-xi-tinh [Augustine] rằng: "Nếu mà chẳng trả của đã lấy thì chẳng khỏi tội"
– Tám là đền tội nghĩa là vô vi phạt mình cho xứng vì tội đã phạm.


[4v]
Thứ bốn là chịu Mình Đức Chúa Giê-su. Phép này cực trọng hơn các phép. Vì chưng là sự rất thánh là sự tóm lại mọi ơn mầu nhiệm khác cũng là sự rất cao cả trên hết mọi sự. Bởi phép này làm cho ta được chịu mỗi mạch ơn Ga-ra-sa và nguồn các phép Sa-ca-ra-men-tô khác. Ấy vậy những kẻ tới ăn tiệc cực trọng này là Mình cùng Máu Thánh Con Đức Chúa Trời thì phải ở cho trong sạch linh hồn và xác. Lại chớ khả tưởng rằng mỗi một năm chịu Mình Thánh Chúa một lần theo phép thánh Y-kê-rê-xa dạy thì đã đủ. Song le càng đến mà chịu phép ấy cho nên bao nhiêu thì lại càng tốt bấy nhiêu mà chớ.
Thứ năm là phép Xức Dầu Thánh cho kẻ liệt mong sinh thì. Phép này bởi dầu thánh là lời Đức Chúa Giê-su truyền mà làm cho kẻ liệt nên mạnh mẽ phần linh hồn. Cho nên chẳng còn lình sịch mà lại có khi được lòng vui vẻ mà lìa ra khỏi đời này. Vả lại phép này chẳng những là tha tội cho kẻ liệt mà thôi. Song lại có ích cho ta là Đức Chúa Trời thường cho khoẻ mạnh về phần xác nữa.
Thứ sáu là phép cho Thầy làm lễ Mi-sa. Mà phép Sa-ca-ra-men-tô này là làm cho Thầy Sa-sê-dô-tê cùng các Thầy Bề trên được giúp việc thánh Y-kê-rê-xa cho nên. Ví bằng thật đây nên nói tỏ dễ đâu kể xiết. Vì là sự ưu sầu đau đớn lòng ta biết là muôn muôn linh hồn nào. Bởi vì thiếu kẻ giảng khuyên an ủi cho nên hằng đã phải trầm sa Địa ngục. Ơ Chúa Deu là đấng muôn đời hằng có. Ví bằng có nhiều Mi-xi-ô là đấng giảng truyền dắt dìu những phô người ấy thì gì cho đến đội này. Mà lại biết là mấy kẻ ngoài sẽ trở…


[5r]
… lại cùng Chúa cho khỏi chết đời đời. Ấy vậy dám kêu xin cùng Chúa hãy sai kẻ gặt đến mà gặt thu lấy lúa người cho kịp mùa kẻo nên ốm liệt nữa. Ấy vậy bằng cha mẹ nào có lòng khuyên con mình cho được làm việc Chúa và những kẻ đã lớn khôn tính lành nết tốt dầu có dốc lòng phó mình cho được làm việc Chúa và giúp việc thánh Y-kê-rê-xa cùng sự rỗi linh hồn người ta và rao truyền những lời Ê-van-giê-li-ô được vững vàng một chực chẳng hay đổi chí. Thì phải biết thật chẳng có sự gì vui vẻ cùng ngọt ngào và vững bền cho hơn là sống mà làm việc sáng danh Đức Chúa Trời.
Thứ bảy là phép nhất phu nhất phụ. Phép này làm cho một người nam cùng một người nữ mà khi sính lễ giá thú theo phép đạo. Đoạn thì chẳng được phân rẽ nhau vì là sự nối hợp theo phép thánh. Nay dầu ghét dở khắc vác thì cũng chẳng được lìa nhau nữa. Cho nên kẻ chịu phép ấy phải suy ngắm mình là thật làm theo việc thánh chẳng phải là việc thế gian đâu. Nên trong việc này phải có ý trọn lành trong sạch. Vậy hệ ai làm việc giá thú này mà biết có phạm tội gì trọng thì trước phải xưng mà rửa linh hồn cho sạch để mà chịu ơn bởi phép này cho nên.
Thầy lại nghe trong anh em bổn đạo có nhiều người định cưới gả chồng cho con mà muốn cho nhà trai làm rể đôi ba năm rồi thì mới gả. Cho nên sinh tệ nhiều đàng. Bởi đó mà ra lời ta đoán tốt là phải bỏ thói ấy đi mà tự nay về sau chẳng khả để thôi dài và dần hoàn chầy ngày làm vậy nữa. Song có cao thì trong hai ba tháng trông việc ấy cho rồi mà thôi. Mà khi chẳng có Thầy nào thì ai…


[5v]
… đã kết nghĩa phu thê đoạn. Dầu mà đã nhiều năm có con cái mặc lòng. Bằng sau có gặp Thầy nào thì phải xin người làm lễ bắt tay cho nhau phép thánh Y-kê-rê-xa đã dạy thì mới nên. Ấy bấy nhiêu lời trước nói lược qua vậy. Song cũng đã đủ cho mà các phép Sa-ca-ra-men-tô hãy còn nhiều sự khác ước nói ra đấy thì cũng có ích. Nhưng mà chửa hợp mấy.
Vậy bây giờ nói một hai sự về các điều răn Đức Chúa Trời được cho ai nấy tỏ biết những sự thuộc về lòng kính mến Đức Chúa Trời cùng là thương yêu người. Mà trước khi ta đâu đo được sự tốt lành sang trọng Chúa ta và lòng nhân từ Người đã tỏ cho ta dường ấy. Vì là Người có lẽ sinh ta cho được cao rao danh Người mà sao chẳng có trông chút phần công thưởng gì. Song Người đã muốn sự sang trọng ngợi khen Người mà nối hợp là sự ích về phần ta nữa. Vì Người đã cứu vớt ta cho khỏi chốn tội lỗi tối tăm mà đem vào nước Con Người rất yêu. Vậy ta phải lụy phục tôn kính danh Người là thể nào cho xứng đáng. Vì chưng Người là đấng đã rộng rãi cùng ta dường ấy. Thật là lẽ chính đạo lành thì đáng cho ta thờ phượng kính mến Người hết lòng hết sức và làm theo ý Người đời đời chẳng cùng.
Vậy điều thứ nhất dạy ta phải kính mến Đức Chúa Trời hết lòng hết sức trên hết mọi sự và làm tôi một mình Người cho nên. Ấy vậy chẳng nên thờ các chúa dối trá khác cùng tin âm trinh khoa [coi bói] nhậm độn [bấm tay] phù thủy pháp môn cùng các sự quái dối khác như vậy. Nhưng mà phải biết như thói bổn đạo quen thờ ảnh tượng như ảnh Đức Chúa Giê-su hay là ảnh Đức Chúa Bà cùng ảnh thánh nào khác thì cũng chẳng có nghịch cùng giới danh…


[6r]
… đâu. Vì chưng ta thờ kính ảnh ấy mà kêu xin cùng ông thánh nào hay là bà thánh nào cầu cho ta. Vì người đã được nghĩa cùng Chúa thì nài xin cùng Người cầu thay nguyện giúp cho ta trước mặt Chúa mà thôi. Chẳng phải là có ý thờ phượng người bằng Đức Chúa Trời đâu. Sau nữa ta thờ ảnh chẳng phải như kẻ ngoại thờ Phật. Khi ta kính ảnh là kính kẻ có hình trong ảnh. Chẳng phải là tin thật có Chúa hay là có thánh nào trong ảnh ấy đâu. Song le những kẻ tin chiêm bao mộng ảo hay là xem trò xem tướng và các sự dối khác như vậy. Lại những kẻ chẳng có lòng trông cậy về sự linh hồn mình hay là chẳng trông cậy lòng lành Đức Chúa Trời cùng những kẻ tham lam hết sức cho được phú quý danh vọng cùng sự sống lâu khỏe mạnh ở đời này thì những kẻ ấy nghịch phạm cùng điều răn này mà chớ. Và lại vô hồi kẻ khác nghịch cùng điều này nữa. Song le lại nói đây về sự tống táng con An Nam quen làm là khi cha mẹ sinh thì. Sau nữa lấy phép Y-kê-rê-xa mà luận cùng phép thói kẻ ngoại là tế lễ thầm thiêng cùng quỳ gối kính lạy trước quan tài v..v… nhưng vì sự ấy Toà Thánh cấm đoán đã ban sắc là ngày mồng ba tháng năm tự Con Chúa ra đời cho đến khi ấy được một nghìn bảy trăm bốn mươi bốn năm [1744].
Lại Đức thánh Pha-pha Ben-tổ thứ Mười Bốn [Benedicto XIV] người cũng có quyết đoán như vậy. Trong một năm ấy ngày mồng bảy tháng sáu.
Vậy điều thứ hai dạy chẳng nên lấy tên Đức Chúa Trời dùng làm nhẹ mà chẳng có lòng tôn kính. Vậy những kẻ phạm giới này là kẻ chẳng giữ lời thề và quen thề vẫn cùng những kẻ vì có một hai cứ nhẹ mà chẳng ai bắt thề. Tức thì lấy tên Đức Chúa Trời hay là tên


[6v]
vật gì khác mà thề rất dõi theo người. Vậy bấy giờ ta lại dẫn lời giới cho những kẻ ấy được suy lời Đức Xi-phi-ri-tô Sang-tô phán rằng: “Đức Chúa Trời chẳng lấy những kẻ ấy làm sạch trước mặt Người là những kẻ lấy tên mà dùng làm hư không”
Ông thánh Giang Ki-rê-sô-tô-mô Vít-vồ Đốc-tô-rê [Jean Chrysostom Obispo Doctor: Thánh Gioan Kim Khẩu, Giám mục Tiến sĩ] cũng nói rằng thế gian vốn đã nên kế cửu đông rẫy những sự dơ dáy. Sự sự vật vật đã hỗn hào. Vả lại chẳng còn yên. Thứ tự trên dưới điều loạn đơn tạp nhu [đùa nghịch] rối loạn bốn phương mà lại thêm sự này là sự rất nặng nề cùng xấu hổ gớm ghiếc trên hết mọi sự xấu là loài người ta nỡ hạ mình xuống mà thờ lạy thần phật ma quỷ. Lại cho đến niên trưởng tuế lão mà sự thề nguyện mộng lần vào thói mọi người. Vì đã vun đầy những sự dối trá điên đảo người người điều chẳng còn tin được nhau cho đến đòi kêu tên trọng Đức Chúa Trời làm chứng. Thật lời này đã nên rắn rỏi đã đủ cho ta suy ngắm chẳng lọ là phải thêm lời khác ích gì.
Vậy điều thứ ba dạy hệ ngày Du-minh [Domingue: Chúa Nhật] cùng các ngày lễ cả phải lấy việc lành phúc đức mà tôn kính ngày lễ ấy. Và chẳng nên làm việc phần xác. Song le phải để lòng cùng mình cho trong trắng mà thờ phượng kính mến Chúa cho nên. Như trong các ngày ấy vậy ai có lẽ mà đi xem lễ cùng chầu nguyện với anh em được mà làm biếng trễ nãi chẳng đi. Cùng kẻ chẳng có sự gì gấp vội mà làm việc phần xác thì những kẻ ấy phạm nghịch cùng giới răn này. Thật những ngày ấy là ngày làm cho kẻ nhân đức nên vui mừng và nhẹ trân. Nhưng mà có nhiều kẻ thì lấy làm vẻ rất…


[7r]
… nóng nãy vậy. Hằng kiếm phương tháo luật cho lánh khỏi kẻo nhọc mình. Ấy là dấu bổn đạo xấu mà chớ. Lại những điều sau này giòi là sức rậm cùng bước nó rỉa thì thì kiếm chẳng bằng điều trước. Song le thật là sự rất có ích cho ta phải giữ vì dạy là phải yêu nhau.
Vậy điều thứ bốn dạy phải thảo kính cha mẹ. Vì người là đấng sau Đức Chúa Trời mà sinh cùng nuôi nấng cho được sống. Nên phải hết lòng kính niệm giúp đáp vâng lời chịu lụy người cùng là những đấng bề trên trong thánh Y-kê-rê-xa và vua chúa quan quyền cùng những kẻ cai trị ta nữa. Nhưng mà khi dạy ta làm sự gì nghịch cùng điều răn Chúa dạy thì chớ khả nghe. Có lời trong Sấm Truyền rằng: “Phải vâng lời Đức Chúa Trời hơn những lời thế gian”.
Vậy điều thứ năm dạy ta phải ở hoà thuận cùng khắp hết mọi người chẳng từ ai sốt. Dầu mà ai có làm việc gì cho lòng ta thì phải chịu bằng lấy lời ông thánh Giang [Jean: Gioan] Tông đồ rằng: “Ai mà ghét ghen anh em mình thì kẻ ấy phải ở nơi tối tăm và đi đàng tối tăm nữa, mà mình cũng chẳng biết đi chốn nào. Vì sự tối tăm ấy đã làm cho nó đui đi. Cho nên nó sẽ ngã xuống mà chớ”
Vậy điều thứ sáu dạy phải ở cho trong sạch là những sự gì nghịch cùng sự sạch sẽ thì ta phải lánh cho xa. Vì nhân đức sạch sẽ là ơn Đức Chúa Trời rất trọng mà ai xin sự này cho nên thì cha rất nhân từ người chẳng nghĩ chối bỏ cũng chẳng nghĩ để ta chịu cám dỗ


[7v]
quá sức đâu. Vậy ai nấy phải có trốn tránh sự ở nhưng vì đã làm cho thành Sô-do-ma ngã xuống như lời tiên tri đã phán e khi nó đã ra ngu độn. Thoắt chốc liền phiêu ngã xuống phải tội lỗi rất cực trọng cùng dơ dáy là tà dâm. Vậy thì hệ là mỗi sự dơ dáy tục tỉu dầu lo dầu nói dầu làm mà nghịch cùng nhân đức này thì ta xá lánh cho xa.
Vậy điều thứ bảy dạy hệ ai nấy chẳng nên lấy của người mà làm cho mình được ích lợi. Vì chưng mới những kẻ trộm cướp thì chẳng được vào Thiên đàng đâu và những kẻ chẳng cứ công bằng như có ăn trộm ăn cướp cho. Vì ăn lời quá lẽ hay là dùng chước nào khác cùng đồng tình hãm hiếp lấy của ai thì phải trở lại hết cũng chẳng khả để một chực nào sốt. Thì hãy có ý mà xem biết khốn là thể nào. Ví bằng có quen thói làm vậy. Ngắm như lời tiên tri rằng: “Thương hại cho bay mà thôi. Ơ những kẻ muốn vô thu tích để những của ấy thì chẳng phải là của bay. Mà lại cho đến đòi nào nợ và cấu chớ lấy bụi đất cho đông rẫy mà cho nặng mình bay làm gì. Hệ là có lòng liên mẫn và lấy của mà cho những kẻ khó khăn tất đới mà khi kẻ ấy phải nạn khốn khó phải nâng phù giúp đỡ. Những lẽ ấy là thói nhân lành kẻ có đạo như trong kinh rằng: “Ai hay thương xót người ấy là phúc thật vì chưng ngày sau Đức Chúa Trời lại thương mình vậy”
Vậy điều thứ tám dạy ta chẳng nên làm chứng dối hay là nói dối cùng thề dối và lời mạn nghịch cùng anh em thì điều khả lánh. Vì có lời ông thánh Phao-lô rằng: “Đức Chúa Trời rất ghét những kẻ nói hành nịnh siểm. Cho nên khi có nghe ai nói thêm thắt chê bai nói…


[8r]
… về sự kẻ khác thì phải lánh cho xa chẳng khác gì như lánh rắn độc vậy. Ơ lưỡi rất nên có lộc là lưỡi chẳng nghĩ nói điều gì về sự thế gian. Một nói về sự Đức Chúa Trời mà chớ. Ấy ta xem ta khác bổn đạo đời xưa là ngần nào. Vì phô người ấy khi gặp nhau giữa đường tức thì liền lấy lời lành khuyên bảo giục theo cho được lòng kính mến thờ phượng Chúa cho nên. Mà ta khi gặp nhau thì chẳng ngại nói đến bao giờ về sự làm cho rỗi linh hồn hay là nhắc đến quê thành ta là thành Giê-ru-sa-lem cùng ở trên Trời. Còn hai điều sau này bởi vì đã có giới thứ sáu thứ bảy nên bây giờ ta trước lược qua về điều răn thánh Y-kê-rê-xa cho anh em được biết. Vậy phải có lòng mà tôn kính các ngày lễ như trước đã nói trong giới thứ ba cùng những ngày chay lòng hay là kiêng thịt thì phải lệ mà giữ cho cẩn thận. Vậy những ngày ấy sẽ kể sau này cho anh em được biết.
Thứ nhất là các ngày lễ Du-minh trong năm. Là ngày lễ Phục Sinh. Ngày lễ Thăng Thiên. Ngày lễ Đức Chúa Xi-phi-ri-tô Sang-tô Hiện Xuống. Ngày lễ Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Ngày lễ Mình Chúa. Ngày lễ Sinh Nhật Đức Chúa Giê-su. Ngày lễ Đặt Tên. Ngày lễ Ba Vua. Ngày lễ Đức Chúa Bà đem Đức Chúa Giê-su vào Đền Thánh. Ngày lễ Đức Chúa Bà chịu thai ngày lễ Đức Chúa thăng thiên . Ngày lễ Sinh Nhật Đức Chúa Bà. Ngày lễ Đức Chúa Bà khỏi tội Tổ Tông truyền cho. Ngày lễ Sinh Nhật ông thánh Giang Bao-ti-xi-ta. Ngày lễ ông thánh Vê-rô cùng ông thánh Phao-lô. Ấy bấy nhiêu ngày ấy phải giữ cho nhiệm nhặt chớ khả thưa mà làm gì. Vì khi vô sự mà chẳng giữ thì có tội trọng.


[8v]
Lại kể các ngày chay lòng là các ngày thứ sáu trong tuần chay cả cùng ngày thứ bảy áp lễ Phục Sinh và áp lễ Sinh Nhật Đức Chúa Giê-su. Sau nữa là những ngày kiêng thịt là các ngày thứ sáu thứ bảy trong năm cùng ngày chay mùa áp lễ các thánh Tông đồ kiêng ba ngày trước là lễ Đức Chúa Giê-su thăng thiên lễ ông thánh Ma-rô-cô Ê-van-giê-li-ta thì chính kiêng ngày ấy. Những ngày kiêng thịt trước là áp lễ Đức Chúa Xi-phi-ri-tô Sang-tô Hiện Xuống áp lễ Đức Chúa Trời Ba Ngôi áp lễ Đức Chúa Bà thăng thiên áp lễ Sinh Nhật ông thánh Giang Bao-ti-xi-ta áp lễ ông thánh Lo-sen-sô áp lễ các thánh nam nữ. Song le như kẻ có sự gì trọng cùng tật nguyền bệnh hoạn hay là tuổi tác già cả cùng là thai sản. Lại những kẻ rất đói khó khăn thì có ý mà chước thứ. Bằng khi có Thầy thì phải xưng tội cùng chịu Mình Thánh Đức Chúa Giê-su mà một năm ít là một lần. Nhưng mà ai nấy chớ nghĩ là luật thánh Y-kê-rê-xa thì được dung thứ theo ý bổn đạo làm gì. Song le mỗi người phải giữ cho nhặt chớ khả thưa. Mà bằng có chính thật như lẽ ấy thì tha được mà thôi.
Còn sự say mê chè rượu là sự gớm ghiếc trước cho Đức Chúa Trời mà cũng là sự người ta rất ghét thì phải hết lòng dứt bỏ. Vì có lời trong Sấm rằng: “Khốn cho bay ơ những đứa ngạo lẽ thức dấy thì đã kết đảng rủ nhau đi uống rượu cho đến tối đến đòi cho nặc nồng trong ngoài hôi đầy những hơi rượu. Vì bởi cho nên Địa ngục đã mở rộng ra và hà huyết lần chẳng có ngần. Mà bấy giờ những đảng vây canh cùng dân phục tùng theo nó sẽ trúc xuống cùng nó mà chớ”.


[9r]
Sau nữa ớ anh em hãy tìm kiếm việc khiêm nhường chịu luỵ và những sự nhân lành phúc đức khác vì chưng Chúa là của rất trọng thưởng ta vô cùng. Vậy bây giờ chẳng có lời nào kíp hơn nữa bằng lời thánh Y-sa-y-a nên chưng dẫn làm lời kết cho ta được hay. Đức Chúa Trời phán rằng: “Bay hãy tắm rửa kì lẽ cho nên tinh bạch cùng những sự dơ dáy gớm ghiếc hãy đem ra cho khỏi tay Tao. Ơ đứa ngây đứa làm sự dữ hãy tập tính những việc nhân lành. Hãy tìm kiếm sự công lý chính. Hãy giúp đỡ kẻ chịu ức hiếp. Hãy xem xét cho những kẻ ngây thơ. Hãy vô thành những người goá bụa mà bay hay đến và xét sửa Tao. Ví bằng những tội lỗi bay đã phiên dường điều mặc lòng. Thì sẽ được trắng như tuyết mà chớ. Vậy ơ các con hãy bình sinh cứng sức mà làm thì lòng hãy nên rắn rỏi. Ấy các con hãy ghé con mắt mà xem những người trong bay đã gia công chịu khó vì Đức Chúa Giê-su. Là những kẻ có danh trọng đầy rẫy bởi Đức Chúa Xi-phi-ri-tô Sang-tô là sự khôn ngoan thật. Vậy chẳng có lưỡi nào mà khen sự khốn khó vững vàng phô ông ấy cho xiết. Ơ các con rất yêu là những kẻ đang chịu bấy giờ trong vòng khốn khó là giống đã vỗ là dòng thánh thật. Là sự ngợi khen ta cũng là mão triều thiên ta nữa. Chớ gì cha được hôn ấp lấy những dây thắt đầu đã nhuộm đầy những máu chúng con cùng là trình khố ấy được thắt vào trong mình cha mà vui cho đến tỏ nữa.
Ôi. Ước ai cho cha được thấy Y-kê-rê-xa Chúa bây giờ như thể đời trước ở dân tao bây hãy vui lòng an lặng…


[9v]
… vì kẻ cai trị bay sẽ đến cùng người mà Người chữa lấy bay cho khỏi tay đảng dữ. Ơ Chúa Ê-ma-nô-ê Người là vua trên trời dưới đất. Người là đấng rao truyền luật thánh Người là sự trông đợi muôn dân. Người là Chúa cứu chuộc mọi loài. Ơ Chúa Deu xin hãy đến mà chữa lấy chúng tôi cho khỏi chưng tay đảng dữ.
Tự Thiên Chúa giáng sinh được nhất thiên thất bách lục thập bát niên [1768].
Hữu tự phó - Hữu miễn
Cảnh Hưng nhị thập cửu niên tuế thứ Mậu Tý niên thập nhất nguyệt thập thất nhật.


[10r]
Thầy Dê-ni Mi-xi-ô-na-ri-ô No-ta-ri-ô A-vô-xi-tô-li-cô vâng lệnh Đức Thầy cả dạy tả trong điều luật này là cho anh em bổn đạo các xứ phải vâng theo mà giữ như trong thể này.
Denis Bovet Missionario Notario Apostolico
[Denis Bovet Thầy cả Thừa sai và Thư ký Tông tòa]