Tình cờ tôi tìm được một bản kinh Lạy Cha được phiên âm, kèm bản dịch tiếng Ý từ sách “Saggio practicco delle Lingue con prolegomeni e una raccolta di orazioni dominicali in più di trecento lingue e dialetti" (Thực hành ngôn ngữ khôn ngoan với phần giới thiệu và một bộ sưu tập các Kinh Lạy Cha trong hơn ba trăm ngôn ngữ và phương ngữ) in năm 1787 do Lorenzo Hervás (1735-1809) sưu tập.
Bản văn chép lại phiên âm Kinh Lạy bằng con chữ Latinh kèm theo phần giải nghĩa bằng tiếng Ý, do một cựu thừa sai dòng Tên ở Đàng Ngoài có tên là Onifori Villani ghi lại.
Hervas chú thích về Kinh Lạy Cha của Việt Nam như sau:
“In questa orazione si premette la parola riveriamo, perchè secondo il costume de’ Tonchinesi si dee fare un atto di riverenza a Dio avanti di parlare con lui. Ho fatta letteralissima la traduzione secondo i documenti datimi dall’ Exgesuita Sig. D. Onofrio Villani Missionario del Tonkino: e fra le parentesi ho introdotte alcune parole a maggior intelligenza del senso delle sentenze.”
Dịch sang tiếng Việt:
Trong lời nguyện này, người ta mở đầu bản kinh bằng chữ “Lạy” (dịch sát: “chúng con tôn kính”, riveriamo), bởi theo phong tục của người Đàng Ngoài (Tonchinesi), phải thực hiện một cử chỉ tôn kính đối với Thiên Chúa trước khi thưa chuyện với Ngài. Tôi đã thực hiện bản dịch một cách sát nghĩa nhất, dựa trên những tài liệu do cựu tu sĩ Dòng Tên, Don (Cha) Onofrio Villani, nhà truyền giáo tại Đàng Ngoài (Tonkino), cung cấp cho tôi; và trong các dấu ngoặc, tôi đã thêm vào một số từ ngữ để giúp hiểu rõ hơn ý nghĩa của các câu văn.
Đây là một chứng tích rất quý vì nó thuộc giai đoạn cực kỳ hiếm của lịch sử ngôn ngữ Công giáo Việt Nam, nằm trong giai đoạn chuyển tiếp sau thời các nhà truyền giáo Dòng Tên thế kỷ XVII-XVIII, nhưng trước khi các thừa sai Paris (MEP) thống trị hoàn toàn hoạt động truyền giáo thế kỷ XIX.
Soạn giả Lorenzo Hervás y Panduro không phải là một nhà truyền giáo ở Việt Nam; ông là một cựu tu sĩ Dòng Tên người Tây Ban Nha, nổi tiếng như một trong những nhà ngôn ngữ học so sánh đầu tiên của châu Âu. Sau khi Dòng Tên bị giải thể năm 1773, ông sống lưu vong tại Ý và thu thập tư liệu ngôn ngữ từ mạng lưới các cựu tu sĩ Dòng Tên trên khắp thế giới. Chính nhờ mạng lưới này mà ông có thể xuất bản bộ Idea dell’ Universo và các công trình về hơn 300 ngôn ngữ khác nhau.
Năm 1773, Giáo hoàng Clement XIV ban hành sắc chỉ Dominus ac Redemptor giải thể Dòng Tên. Sau biến cố này các tu sĩ Dòng Tên đang hoạt động tại Việt Nam bị buộc phải chuyển sang địa vị linh mục triều hoặc gia nhập hội dòng khác. Tuy Dòng bị giải thể về pháp lý, nhiều cựu tu sĩ vẫn tiếp tục phục vụ tại các giáo đoàn cũ. Vì trong các sách xuất bản cuối thế kỷ XVIII thường xuất hiện cách gọi ex gesuita (cựu tu sĩ Dòng Tên).
Điều này cho thấy vào năm 1787, Onofrio Villani không còn là tu sĩ Dòng Tên nữa, nhưng soạn giả Lorenzo Hervas vẫn xem ông là nguồn tư liệu có thẩm quyền về ngôn ngữ và tập tục Tonkin.
Theo ghi chép của cha Philiphê Bình và tài liệu đương thời, cha Onifrio Villani (có chỗ chép là Vigliani), có tên Việt là Cố Hậu, là một trong những nhà truyền giáo Dòng Tên cuối cùng đến Việt Nam. Ông sinh năm 1715 ở Ý, đến Đàng Ngoài (Bắc Hà) 2 lần, lần đầu ở Nghệ An từ năm 1755 đến năm 1760, sau đó ông về Roma xin gửi các cha Dòng Tên đến Việt Nam. Năm 1765, cha Villani Hậu trở lại Đàng Ngoài làm bề trên các cộng đoàn Dòng Tên và phục vụ các giáo đoàn ở Sơn Nam hạ (thuộc vùng Nam Định ngày nay). Năm 1779, cố Hậu rời Đàng Ngoài sang Quảng Đông để về Roma. Cùng đi với cha có hai thầy Quyền và thầy Thiều (hai thầy này có lẽ là hai người đầu tiên học thần học và chịu chức linh mục ở Roma). Vì dòng Tên đã bị giải thể, cha xin nhập dòng Phanxicô Capuchino ở Ý.
Vì sống ở Đàng Ngoài gần 20 năm, cố Hậu được coi như là người thành thạo văn hóa và ngôn ngữ Đàng Ngoài. Soạn giả đã ghi lại nhận xét của ông về phong tục người Việt:
“theo phong tục người Tonkin, phải kính lạy Thiên Chúa trước khi thưa chuyện với Ngài.”
Theo đúng cách trình bày của Hervás thì Kinh Lạy Cha này đọc như sau (ảnh 1)
Tiếng Việt (phiên âm) : Tiếng Ý của Hervas
Chúng-toi : noi-io [cioè nostro]
lai Thien dia : riveriamo (di) cielo, terra
chen Chua : vero Signore
o tren bloi : stante sopra cielo
la Cha chung-toi : e Padre nostro
Chúng-toi nguyen : noi preghiamo
deant Cha ca : nome [del] Padre universale
sang : risplenda
Cuoc cha : regno [che il] Padre
tri, den : governa, arrivi
Bung I : ubbidiamo volontà
cha duoi : (del) padre già
dat, bang : (in) terra, come
tren bloi bai : sopra (in) cielo così
Chúng-toi xin : noi dimandiamo
cha rai : (al) padre oggi
cho chung-toi : dar ci
hang ngay : il pane quotidiano
dun : usare (cioè il cibo, che si usa)
du : bastante (cioè abbastanza)
E tha : e perdonare
no chung-toi : debiti nostri
bang chung-toi : come noi
cun tha : parimente perdoniamo
ke co no : quelli hanno debiti
Chúng-toi xin : noi dimandiamo
cho dee : non permettere
chung-toi sa : noi cadere
chung cam-do : in tentazione
Ben chua : ma libera
chung-toi : noi
chung su du : da cose cattive
Phục nguyên sang tiếng Việt hiện đại
Chúng tôi lạy Thiên Địa Chân Chúa ở trên trời là Cha chúng tôi.
Chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng.
Cuốc (Quốc) Cha trị đến.
Vâng ý Cha dưới đất bằng trên trời vậy.
Chúng tôi xin Cha rày cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ.
Và (?) tha nợ chúng tôi, bằng chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi.
Xin chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ.
Bèn chữa chúng tôi cho khỏi sự dữ.
—-
So sánh với các bản kinh Lạy Cha khác:
Nếu so sánh bản này với bản Nôm của Đức thầy Hilario da Costa Hy trong sách Các phép thế kỷ XVIII, bản của cha Bỉnh ghi lại bằng chữ Nôm cuối thế kỷ XVIII, cũng như Thánh Giáo Kinh Nguyện của địa phận Đông Đàng Ngoài thế kỷ XVIII, thì rõ ràng là Kinh Lạy Cha này khá trung thành với bản Kinh Lạy Cha mà cha Majorica đã phổ biến từ thế kỷ XVII (ảnh 2)
A) Kinh Lạy Cha chữ Nôm/ Quốc ngữ
trong Sách Các Phép, dịch từ Latinh (ảnh 3)
Cha chúng tôi là kẻ ở trên trời (mlời) xin cho tên (tin) người nên thánh nước người cai trị đến, vưng ý (êý) ở dưới đất bằng trên trời (mlời) vậy hãy ban cho chúng tôi hôm nay của ăn chúng tôi quen dùng mọi ngày cùng (cũ) tha cho chúng tôi những nợ (nhớ/nữa/nứa) chúng tôi bằng chúng tôi cũng tha kẻ có nợ (nữa) chúng tôi vậy xin (cũ) chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ (deồ) bèn chữa chúng tôi [khỏi] sự dữ.
Chú ý đây là bản dịch sát nghĩa từ tiếng Latinh để các cha hiểu ý nghĩa các từ ngữ khi làm lễ chứ không phải bản kinh đọc hàng ngày.
B ) Kinh Lạy Cha của thầy cả Bỉnh (ảnh 4)
眾碎𥛉恩天地真主。於𨕭𡗶羅吒眾碎。眾碎愿。名吒奇創。國吒治旦。𠳐意吒𠁑坦。平𨕭𡗶丕。眾碎吀吒。𣈙朱眾碎。恒㝵用堵。麻赦女眾碎。平眾碎拱赦。几固女眾碎丕。吀渚底眾碎。沙蒸感𠴗。卞助眾碎。蒸事与。亞綿。
Phiên âm theo tiếng Việt thế kỷ XVIII
Chúng tôi lạy ơn Thiên Địa Chân Chúa ở trên blời là Cha chúng tôi. Chúng tôi nguyện. danh Cha cả sáng. cuốc Cha trị đến. vơng ý Cha dưới đất. bàng trên blời vậy. Chúng tôi xin Cha. rằy cho chúng tôi. hàng ngày dùng đủ. mà tha nợ chúng tôi. bàng chúng tôi cũng tha. kẻ có nợ chúng tôi vậy. xin chớ để chúng tôi. sa chưng cám dỗ. bèn chữa chúng tôi. chưng sự dữ. A-men.
C) Kinh Lạy Cha in trong Thánh Giáo Kinh Nguyện cũng tương tự như vậy (ảnh 5)
D) Kinh Lạy Cha phiên âm bằng mẫu tự Latinh của cố Villani Hậu cũng được in lại trong các sưu tập khác, thí dụ như trong "The Lord's Prayer in 250 Languages and 180 Forms of Writing" Chủ biên Pietro Marietti, Wendell Jordan S. Krieg - NXB
Brain Books (1870) (ảnh 6)
E) Đến năm 1924, Kinh Lạy Cha được cập nhật câu đầu (ảnh 7), nhưng vẫn giữ phần lớn từ vựng cũ cho đến lần sửa đổi cuối cùng khi cải tổ phụng vụ vào năm 1970.
Lạy Cha chúng tôi ở trên trời.
Chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, vâng ý Cha dưới đất bằng trên trời vậy.
Chúng tôi xin Cha rày cho chúng tôi hằng ngày dùng đủ, và tha nợ chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi, lại chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ, bèn chữa chúng tôi cho khỏi sự dữ. (Bản 1924)
F) Bản phổ thông ngày nay (Sách lễ Roma 1970).
Lạy Cha chúng con ở trên trời,
chúng con nguyện danh Cha cả sáng,
nước Cha trị đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày
và tha nợ chúng con
như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.
Amen.
——
Nhận xét
Trong bản kinh của cố Villani Hậu, có mấy từ cổ rất đáng chú ý
- bloi = trời
- bung = vâng
- rai = rầy (giờ đây)
- e = có lẽ ở đây soạn giả ghi lầm thành chữ “e” (và) trong tiếng Ý. Trong tiếng Việt cổ cũng có trợ từ e (như trong cụm từ "e rằng") là mang ý nghĩa gốc là ngại, sợ, dè chừng, lo lắng hoặc cẩn trọng. Nhưng trong mạch văn này, khó có dùng như vậy.
- ben chua = bèn chữa (giải cứu)
- chung = chưng là một trợ từ hay dùng trong trong các văn bản xưa, không rõ nghĩa. Chữ Nôm giả tá viết là 蒸 (chưng: nấu lâu)
- cuoc cha tri den = quốc Cha trị đến (bây giờ là Nước Cha trị đến)
Giá trị của bản kinh này không nằm ở bản dịch tiếng Ý của Hervás, mà nằm ở chỗ nó là một chứng tích ngôn ngữ học của tiếng Việt Công giáo, được truyền từ các nhà truyền giáo Dòng Tên ở Đàng Ngoài từ thế kỷ XVII sang mạng lưới học giả lưu vong của Dòng Tên tại Ý sau năm 1773.
Nếu đào sâu thêm về cố Villani Hậu rất có thể chúng ta sẽ tìm ra được một mắt xích còn khá ít được nghiên cứu giữa truyền thống Dòng Tên Việt Nam thế kỷ XVII (de Rhodes, Maiorica) và công trình ngôn ngữ học so sánh của Hervás cuối thế kỷ XVIII.
Có thể cố Villani Hậu có viết tài liệu gì đó (bằng quốc ngữ) mà nay đã thất lạc. Nếu có thể tìm được các tài liệu ông đem về Ý thì sẽ là một khám phá thú vị. Đây là hướng nghiên cứu rất đáng theo đuổi.
Nguồn: FB Anh Q Tran https://www.facebook.com/share/p/1AiKhfMFfp/




