Tựa ngắm kinh cửu nhật kính ông thánh Giuse của Thầy cả Philiphê Bỉnh (Lisboa, 1815)

 


Tựa ngắm kinh cửu nhật kính ông thánh Giuse của Thầy cả Philiphê Bỉnh (Lisboa, 1815) - chữ Nôm và chữ Quốc Ngữ, cùng chú thích.
Đây là bài tựa kinh cửu nhật của Thầy cả Bỉnh trong thủ bản Borg.tonch.18. Do Cụ Bỉnh chép chữ Nôm theo lối hành thư nên trong quá trình chép lại có nhiều chỗ còn tồn nghi nên khó tránh khỏi sai sót. Cụ Bỉnh làm sách này dâng lên ông thánh Giuse là quan thầy của nước An Nam và để gửi về cho bổn đạo Dòng Tên ở Đàng Ngoài đọc. Song thương thay! Năm Cụ viết xong sách là 1815, Vua João còn ở Brazil mà sứ mệnh chẳng thành, Tòa Thánh cũng ngăn Cụ lên thuyền về nước thì lấy ai mà gửi sách cho con chiên đọc đây? Tôi thiết nghĩ Cụ Bỉnh đã lo xa từ trước, rằng dù sau khi mình chết thì nhờ có Thiên Chúa quan phòng, sách kinh kiểu gì cũng sẽ được bổn đạo đọc. Tôi đây là con cháu bổn đạo Dòng Tên ở Cẩm Hà, từ năm Cụ Bỉnh đi sứ đến nay đã qua chín đời tiên tổ, thì vui mừng xiết bao khi đọc được từng dòng chữ Cụ viết ra. Tạ ơn ông thánh Giuse đã cho tôi đức kiên trì mà bắt đầu chép đoạn này!
-----------------------------
勸本道沛敬重翁聖樞搓爲𠊛羅官柴渃些。。。二百二十四
Khuyên bổn đạo phải kính trọng thánh Giu-se vì Người là Quan thầy nước ta ... trang 224.
丕离批碎。羅柴奇炳。固意爫囉沒昆索尼麻朱特敬德主支秋共慄聖德妑瑪𠫾亞。喡翁聖樞搓。爲忌功業𠊛仕傷麻𢩾朱碎。
Phi-li-phê tôi. là Thầy cả Bỉnh. có ý làm ra một con sách này mà cho được kính Đức Chúa Giê-su cùng rất thánh Đức Bà Ma-ri-a. và ông thánh Giu-se. vì cậy công nghiệp Người sẽ thương mà giúp cho tôi.
丕碎固俐勸英㛪爫奴边那麻敬翁聖樞搓。
Vậy tôi có lời khuyên anh em làm No-ven-na (1) mà kính ông thánh Giu-se.
奴边那㗂渃些。義羅經讀𠃩㝵畧禮翁聖樞搓。羅伴沚仕共慄聖德妑瑪𠫾亞侖代童貞。喡爫補餒德主支秋。共羅官柴本道渃安南些。麻課初柴奇篤蘇移𣳔德主支秋。先羅樞搓瑪𠫾亞。㐌爫囉經尼㗂渃于須計。固意敬翁聖樞搓。共慄聖德妑瑪𠫾亞。爲羅官柴𠊛。麻自𧘇典𠉞時各等中聖依計移加。窮各本道邊方西。調扒斫麻爫奴边那。朱特敬重𡃛𠸦翁聖樞搓如丕時重体稟。爲固朝除中𠃩㝵𧘇。如碎㐌袩体𡗊吝。麻恩重德主𡗶㐌𤐝𢚸朱。時碎買汝旦句『巴至宝山莫為空手』。喡中
Nô-ven-na tiếng nước ta. nghĩa là kinh đọc chín ngày trước lễ ông thánh Giu-se. là bạn sạch sẽ cùng rất thánh Đức Bà Ma-ri-a trọn đời đồng trinh. và làm bố nuôi Đức Chúa Giê-su. cùng là Quan thầy bổn đạo nước An Nam ta. mà thuở xưa Thầy cả Đốc-tô-rê (2) Dòng Đức Chúa Giê-su. tên là Giu-se Ma-ri-a. đã làm ra kinh này tiếng nước Vu-tu-ghê (3). có ý kính ông thánh Giu-se. cùng rất thánh Đức Bà Ma-ri-a. vì là Quan thầy người. mà tự ấy đến nay thì các đấng trong thánh Y-ghê-rê-gia (4). cùng các bổn đạo bên Phương Tây. điều bắt chước mà làm Nô-ven-na. cho được kính trọng ngợi khen ông thánh Giu-se như vậy thì trọng thể lắm. vì có chầu giờ trong chín ngày ấy. như tôi đã xem thấy nhiều lần. mà ơn trọng Đức Chúa Trời đã soi lòng cho. thì tôi mới nhớ đến câu “ba chí bảo sơn mạc vi không thủ”(5). và trong
經𩆷傳固呐浪。欺翁聖梅蓮割几𠫾探信。時奴固冘衛梗儒懶喡𠃩卒冷唁𠮾。欺𧘇固爫朱民依啐囉𠲖离些囉孟暴奇㬳。麻慝𢚸打賊。朱特衛坦祖宗茄命課初,朱𢧚悲除碎共扒斫如丕。麻易囉經尼㗂渃些。如玉無價麻冘衛爫式声灵朱英㛪本道特用。時仕𢧚富貴中灵魂。爲固計忍事仁德共功業翁聖樞搓。麻𠊛㐌特事貴𨕭渃天堂。庄恪之如森儒声灵卒冷唁𠮾。𠃝羅爫朱英奄囉慝𢚸貪藍事盃佊。麻囉孟暴奇㬳打賊三詧。羅性壳𦧘些。 退世間尼。喡斫魔鬼感𠴗。朱特衛坦祖宗些羅渃天堂。矯群沛爫碎佐罪磊。如民依啐囉𠲖离些㐌沛爫碎𤤰渃依支蘇課初。麻欺民𧘇迍囉塊渃依支蘇。時翁聖梅蓮固冘𠫾戈塊𣷷赭特𤏪真共平安。
kinh Sấm truyền có nói rằng. khi ông thánh Môi-sen (6) cắt kẻ đi thám tin. thì nó có đem về cành nho lớn và chín tốt lành ngon ngọt. khi ấy có làm cho dân Y-sút-ra-ê-li-ta (7) ra mạnh bạo cả ngủ. mà nức lòng đánh giặc. cho được về đất tổ tông nhà mình thuở xưa, cho nên bây giờ tôi cũng bắt chước như vậy. mà dịch ra kinh này tiếng nước ta. như ngọc vô giá mà đem về làm thức thiêng liêng cho anh em bổn đạo được dùng. thì sẽ nên phú quý trong linh hồn. vì có kể những sự nhân đức cùng công nghiệp ông thánh Giu-se. mà Người đã được sự quý trên nước thiên đường. chẳng khác gì như chùm nho thiêng liêng tốt lành ngon ngọt. ít là làm cho anh em ra nức lòng tham lam sự vui vẻ. mà ra mạnh bạo cả ngủ đánh giặc tam thù . là tính xác thịt ta. thói thế gian này. và chước ma quỷ cám dỗ. cho được về đất tổ tông ta là nước Thiên đường. kẻo còn phải làm tôi tá tội lỗi. như dân Y-sút-ra-ê-ly-ta đã phải làm tôi vua nước Y-chi-tô (8)) thuở xưa. mà khi dân ấy trốn ra khỏi nước Y-chi-tô. thì ông thánh Môi-sen có đem đi qua khỏi biển Đỏ được ráo chân cùng bình an.
麻軍依支蘇蹺民𧘇時沛折濧中𣷷𧘇歇。渚時中𠃩㝵尼。勸英㛪沛旦共柴奇麻稱罪。時𠊛仕引塘朱英㛪特平安。共塊沛爫碎罪磊。麻戈塊𣷷赭羅特咹眉功業泖聖德主支秋。朱特衛分灵魂。群包饒罪磊奴㐌蹺英㛪閉婁。時仕沛折祝中法沙𤠄囉綿蘇解罪矯群爫困些女。
mà quân Y-chi-tô theo dân ấy thì phải chết đuối trong biển ấy hết. chớ thì trong chín ngày này. khuyên anh em phải đến cùng Thầy cả mà xưng tội. thì người sẽ dẫn đàng cho anh em được bình an. cùng khỏi phải làm tôi tội lỗi. mà qua khỏi biển Đỏ là được ăn mày công nghiệp máu thánh Đức Chúa Giê-su. cho được về phần linh hồn. còn bao nhiêu tội lỗi nó đã theo anh em bấy lâu. thì sẽ phải chết chóc trong phép Sa-ga-ra-miên-tô (9) giải tội kẻo còn làm khốn ta nữa.
次𠄩譬喻如官大臣中渃。時調傷泣奇喡民。双民芾固𢚸尊敬𠊛。麻綾𠓨爫真宠臣。咍羅皮𨕭固奉班急養朱𠊛特該管。麻咹响祿民𧘇。時謳羅𠊛仕傷妖麻䁛朔朱欣。爲民𧘇屬衛𠊛。𧘇丕時翁聖樞搓羅官大臣𨕭渃天堂。恒傷妖各本道泣世間。双本道中渃安南些。時𠊛傷妖麻䁛朔朱欣。事𧘇㐌祖祥庄可胡疑。爲樂
Thứ hai thí dụ như quan đại thần trong nước. thì điều thương khắp cả và dân. song dân nào có lòng tôn kính người. mà giăng vào làm chân sủng thần. hay là Bề trên có Phượng (10) ban cấp dưỡng cho người được cai quản. mà ăn hưởng lộc dân ấy. thì âu là người sẽ thương yêu mà coi sóc cho hơn. vì dân ấy thuộc về người. ấy vậy thì ông thánh Giu-se là quan đại thần trên nước Thiên đường. hằng thương yêu các bổn đạo khắp thế gian. song bổn đạo trong nước An Nam ta. thì người thương yêu mà coi sóc cho hơn. sự ấy đã tỏ tường chẳng khả hồ nghi. vì nhác
德主𡗶㐌撰𠊛爫官柴渃些。朱𢧚欺祖宗些渚別道聖德主𡗶麻蜍奉。時𠊛𤐝𢚸共𢩾飭朱柴奇𣳔德主支秋先羅亞𥗍山移。共柴奇吱由尼模。𠓨旦渃些𡧲㝵禮𠊛。麻講道畧歇。時祖宗些買別。爲事𧘇㐌𥙩𠊛爫官柴渃些。麻德聖葩葩傳朱各柴奇沛爫禮眉沙重衛𨀈上欣各渃麻謝恩𠊛。共班朱各本道渃些特法印由奇𨑮𠄻㝵婁禮𠊛。時欣各本道中天下。爲功業翁聖樞搓。渚時悲除些沛扒斫祖宗些。麻囉飭敬重共爫碎佐翁聖樞搓朱歇𢚸。時買特𠊛傷妖麻認𥙩些爫民忠義屬衛𠊛。麻求保朱些著座主重無共。時別羅包饒恩冷德主𡗶仕班朱些。如中經仕易囉𠃩㝵婁尼時些買別。麻生囉𢚸約泑
Đức Chúa Trời đã chọn người làm Quan thầy nước ta. cho nên khi tổ tông ta chửa biết đạo thánh Đức Chúa Trời mà thờ phượng. thì người soi lòng cùng giúp sức cho Thầy cả dòng Đức Chúa Giê-su tên là A-lê-san-rê (11). cùng Thầy cả Chia-rô-ni-mô (12). vào đến nước ta giữa ngày lễ người. mà giảng đạo trước hết. thì tổ tông ta mới biết. vì sự ấy đã lấy người làm Quan thầy nước ta. mà Đức Thánh Pha-pha (13) truyền cho các Thầy cả phải làm lễ Mi-sa trọng về bậc thượng hơn các nước mà tạ ơn người. cùng ban cho các bổn đạo nước ta được phép In-đu (14) cả mười lăm ngày sau lễ người. thì hơn các bổn đạo trong thiên hạ. vì công nghiệp ông thánh Giu-se. chớ thì bây giờ ta phải bắt chước tổ tông ta. mà ra sức kính trọng cùng làm tôi tá ông thánh Giu-se cho hết lòng. thì mới được người thương yêu mà nhận lấy ta làm dân trung nghĩa thuộc về người. mà cầu bầu cho ta trước Tòa Chúa trọng vô cùng. thì biết là bao nhiêu ơn lành Đức Chúa Trời sẽ ban cho ta. như trong kinh sẽ dịch ra chín ngày sau này thì ta mới biết. mà sinh ra lòng ước ao
共敬重事衛爫碎佐𠊛。
cùng kính trọng sự về làm tôi tá người.
次𠀧禮翁聖樞搓羅㝵𨑮𠃩𣎃𠀧著渃。時奇喡聖𠲖計移加於泣每尼。調爫禮重体麻敬𠊛。爲㐌特福重𨕭𡗶。喡特聀爫官柴朱各几蒙生時於泣世間。時些沛合沒意𧘇麻𡃛𠸦事福德郎重𠊛。喡推吟朱特益灵魂些。爲事推吟時𦎛塘朱些特𠓨旦渃天堂。譬喻如欺固悶爫禮重体麻敬𠊛。時共沛鍼斫𤓢鍤朱産郎迍揲幔影朱卒冷。𧘇羅事禮皮外群沛𠰷料迍揲爫丕。方之些悶爫禮皮中麻敬𠊛。時強沛囉飭欣。麻迍揲中茄灵魂些朱沚仕。時買特倘妖重麻任𥙩禮些。爲类些㐌召恩𠊛時饒計庄掣。畧羅㐌䁛朔廛佇共爫咹庫辱麻餒能主㐌贖罪朱些。功𧘇別重羅体芾。𠄩
Thứ ba lễ ông thánh Giu-se là ngày mười chín tháng ba nước người. thì cả và thánh Y-ghê-rê-gia ở khắp mọi nơi. điều làm lễ trọng thể mà kính người. vì đã được phúc trọng trên Trời. và được chức làm Quan thầy cho các kẻ mong sinh thì ở khắp thế gian. thì ta phải hợp một ý ấy mà ngợi khen sự phúc đức sang trọng người. và suy ngắm cho được ích linh hồn ta. vì sự suy ngắm thì gương đàng cho ta được vào đến nước Thiên đường. thí dụ như khi có muốn làm lễ trọng thể mà kính người. thì cũng phải châm chước nến sáp cho sẵn sàng dọn dẹp màn ảnh cho tốt lành. ấy là sự lễ bề ngoài còn phải lo liệu dọn dẹp làm vậy. phương chi ta muốn làm lễ bề trong mà kính người. thì càng phải ra sức hơn. mà dọn dẹp trong nhà linh hồn ta cho sạch sẽ. thì mới được người yêu trọng mà nhậm lấy lễ ta. vì loài ta đã chịu ơn người thì nhiều kể chẳng xiết. trước là đã coi sóc gìn giữ cùng làm ăn khó nhọc mà nuôi nấng Chúa đã chuộc tội cho ta. công ấy biết trọng là thể nào. hai
羅㐌爫官柴渃些。朱些別道聖德主𡗶。婁女𠊛羅官柴各几蒙生時。麻事折時些庄塊特。爲奴仕典妟埕庄𣌋時悶。事𧘇㐌訴。渚時遲急些仕沛折。双別除芾。麻些拱悶折冷。朱特𩧍灵魂。爲丕勸英奄中𠃩㝵渃禮𠊛。沛囉飭麻爫役冷欣每欺。朱𢧚碎㐌易囉中經奴边那尼。支囉爫𠀧分。麻沒㝵羅𠀧調冷。固次自朱些特易推。麻所郎分灵魂些。共扒斫沒𠄩役冷𠊛爫畧歇。分次一時吟。衛事聀郎重翁聖樞搓㐌特欺群𤯨。分次𠄩時吟衛事仁德共役冷𠊛㐌爫欺群於世間。分次𠀧時吟。事福重𠊛㐌特賞𨕭渃天堂。時庄恪之如𦎛羅沒𦁺圖如先景員慄曠時卒冷。固𡗊花藾𠃩喡𦹳收中𧘇。朱仍几固𢚸敬勉爫碎佐𠊛時撰麻割𥙩朱特用。義羅中奇喡仁德𠊛。麻
là đã làm Quan thầy nước ta. cho ta biết đạo thánh Đức Chúa Trời. sau nữa người là Quan thầy các kẻ mong sinh thì. mà sự chết thì ta chẳng khỏi được. vì nó sẽ đến yến trình (15) chẳng sớm thì muộn. sự ấy đã tỏ. chớ thì trì cấp (16) ta sẽ phải chết. song biết giờ nào. Mà ta cũng muốn chết lành. cho được rỗi linh hồn. vì vậy khuyên anh em trong chín ngày trước lễ người. phải ra sức mà làm việc lành hơn mọi khi. cho nên tôi đã dịch ra trong kinh No-ven-na này. chia ra làm ba phần. mà một ngày là ba điều lành. có thứ tự cho ta được dễ suy. mà sửa sang phần linh hồn ta. cùng bắt chước một hai việc lành người làm trước hết. phần thứ nhất thì ngắm. về sự chức sang trọng ông thánh Giu-se đã được khi còn sống. phần thứ hai thì ngắm về sự nhân đức cùng việc lành người đã làm khi còn ở thế gian. phần thứ ba thì ngắm. sự phúc trọng người đã được thưởng trên nước Thiên đường. thì chẳng khác gì như gương là một món đồ như Tiên Cảnh viên (17) rất thoáng thì tốt lành. có nhiều hoa trái chín và thơm tho trong ấy. cho những kẻ có lòng kính mến làm tôi tá người thì chọn mà cắt lấy cho được dùng. nghĩa là trong cả và nhân đức người. mà
些悶撰𥙩仁德芾麻扒斫時默意。爲些庄扒斫奇喡每仁德倘。時沛扒斫沒𠄩役冷𠊛丕。双渚𢜝㤥共㤕𢚸爫之。爲㐌固𠊛𠫾畧如官將慄孟。朱些特蹺婁麻扒斫。吏如種卒冷声灵麻招中灵魂些。朱特生囉事福德𡗊。麻特葉𢚸德主𡗶。吏沛別欺些𦖑体事福德共功業𠊛慄高慄奇。時停𥙩爫邏共𠸦空爫之。爲事𧘇庄固堵朱特葉𢚸𠊛兜。事慄勸羅些沛扒斫麻爫役冷。貝特益中灵魂些。朱𢧚固俐翁聖區俱星呐浪。些庄固嘻麻爫禮重体朱特敬翁聖樞搓。時拱渚虎𠾺麻扒斫役冷𠊛爫之。買當𠊛傷妖。麻𩲡朔求保朱些。分灵魂喡焚壳。閉除喡㝵婁歇些蒙生時女。
ta muốn chọn lấy nhân đức nào mà bắt chước thì mặc ý. vì ta chẳng bắt chước cả và mọi nhân đức người. thì phải bắt chước một hai việc lành người vậy. song chớ sợ hãi cùng xót lòng làm chi. vì đã có người đi trước như quan tướng rất mạnh. cho ta được theo sau mà bắt chước. lại như giống tốt lành thiêng liêng mà gieo trong linh hồn ta. cho được sinh ra sự phúc đức nhiều. mà được đẹp lòng Đức Chúa Trời. lại phải biết khi ta nghe thấy sự phúc đức cùng công nghiệp người rất cao rất cả. thì đừng lấy làm lạ cùng khen không làm gì. vì sự ấy chẳng có đủ cho được đẹp lòng người đâu. sự rất khuyên là ta phải bắt chước mà làm việc lành. mới được ích trong linh hồn ta. cho nên có lời ông thánh Âu-gu-tinh (18) nói rằng. ta chẳng có hề mà làm lễ trọng thể cho được kính ông thánh Giu-se. thì cũng chớ hổ thẹn mà bắt chước việc lành người làm gì. mới đáng người thương yêu. mà coi sóc cầu bầu cho ta. phần linh hồn và phần xác. bấy giờ và ngày sau hết ta mong sinh thì nữa.
婁女欺爫奴边那。時沛迍盤蜍固影像翁聖樞搓。共影慄聖德妑捧昆。𠄩羅翁聖樞搓揞德主支-蘇欺群𥘷。朱特汝典𠊛㐌𠖈世間爫𠊛麻召折贖罪朱天下。時買易推事聀權郎重共功業翁聖樞搓羅体芾。群事幔影𤓢鍤時默揚𡗊𠃝。皮沛体朱囉𢚸敬。爲固𡨸『欽存於中,宮見於外』。尾吏欺爫奴边那。時沛保信朱英㛪本道特別浪㝵芾。朱𠊛些特旦通功合沒意麻𡃛𠸦德主𡗶。共敬重慄聖德妑。喡翁聖樞搓。群事求吀時默意埃。悶吀事之爫益朱灵魂命。咍羅𢩾朱灵魂各几群𤯨咍㐌戈代時默意𢚸。双一羅特稱罪召禮正㝵敬𠊛。咍羅𠃩㝵畧。喡𨑮𠄻㝵婁。爲固法印由奇如㐌呐畧。群几庄特稱罪召禮。時渚跳𢚸麻爫丙役冷爫之。唉咹𡅧罪昆知双。羅爲𢚸敬勉德主𡗶羅等自然極卒極冷。麻約泑包除固擛朱特稱罪𧘇。時拱特咹眉仁德功業𧘇。麻翁聖樞搓仕傷。共𠰷料朱
Sau nữa khi làm No-ven-na. thì phải dọn bàn thờ có ảnh tượng ông thánh Giu-se. cùng ảnh rất thánh Đức Bà bồng con. hai là ông thánh Giu-se ẵm Đức Chúa Giê-su khi còn trẻ. cho được nhớ đến người đã xuống thế gian làm người mà chịu chết chuộc tội cho thiên hạ. thì mới dễ suy sự chức quyền sang trọng cùng công nghiệp ông thánh Giu-se là thể nào. còn sự màn ảnh nến sáp thì mặc dàn nhiều ít. bề phải thể cho ra lòng kính. vì có chữ "Khâm tồn ư trung, cung kiến ư ngoại"(19). vả lại khi làm No-ven-na. thì phải bảo tin cho anh em bổn đạo được biết rằng ngày nào. cho người ta được đến thông công hợp một ý mà ngợi khen Đức Chúa Trời. cùng kính trọng rất thánh Đức Bà. và ông thánh Giu-se. còn sự cầu xin thì mặc ý ai. muốn xin sự gì làm ích cho linh hồn mình. hay là giúp cho linh hồn các kẻ còn sống hay đã qua đời thì mặc ý lòng. song nhất là được xưng tội chịu lễ chính ngày kính người. hay là chín ngày trước. và mười lăm ngày sau. vì có phép In-đu cả như đã nói trước. còn kẻ chẳng được xưng tội chịu lễ. thì chớ xiêu lòng mà làm biếng việc lành làm chi. hãy ăn năn tội Con-tri-song (20). là vì lòng kính mến Đức Chúa Trời là đấng tự nhiên cực tốt cực lành. mà ước ao bao giờ có dịp cho được xưng tội ấy. thì cũng được ăn mày nhân đức công nghiệp ấy. mà ông thánh Giu-se sẽ thương. cùng lo liệu cho
些特事折冷。爲𠊛固功畧𩈘德主𡗶。或埃垠阻衛格芾麻庄特旦茄蜍。咍羅庄別讀策。双固𢚸約泑悶特爫奴边那麻敬翁聖樞搓。時沛讀沒㝵羅𠃩經天主。𠃩經阿蟡。共經求慄聖德妑朱堵𠃩㝵。麻合沒意𧘇共各本道每尼中聖依計移加。時拱特咹眉通功仁德𧘇。朱𢧚碎𢪀浪。中英㛪本道渃些班㝵固阻𡗊役。爲丕典最買通且麻旦茄蜍特。時仕爫奴边那。共讀經如每欺因体。朱𠊛些通功。喡特添益分灵魂女。時吀包除尼芾固爫奴边那尼麻敬翁聖樞搓。時唉讀𢭸呢畧沒𠄩㝵朱𠊛些特別。底默意埃悶貪藍事之。
ta được sự chết lành. vì người có công trước mặt Đức Chúa Trời. hoặc ai ngăn trở về cách nào mà chẳng được đến nhà thờ. hay là chẳng biết đọc sách. song có lòng ước ao muốn được làm No-ven-na mà kính ông thánh Giu-se. thì phải đọc một ngày là chín kinh Thiên Chúa. chín kinh A-ve. cùng kinh cầu rất thánh Đức Bà cho đủ chín ngày. mà hợp một ý ấy cùng các bổn đạo mọi nơi trong thánh Y-ghê-rê-gia. thì cũng được ăn mày thông công nhân đức ấy. cho nên tôi nghĩ rằng. trong anh em bổn đạo nước ta ban ngày có trở nhiều việc. vì vậy đến tối mới thong thả mà đến nhà thờ được. thì sẽ làm No-ven-na. cùng đọc kinh như mọi khi nhân thể. cho người ta thông công. và được thêm ích phần linh hồn nữa. thì xin bao giờ này nào có làm No-ven-na này mà kính ông thánh Giu-se. thì hãy đọc tựa này trước một hai ngày cho người ta được biết. để mặc ý ai muốn tham lam sự gì.
𧘇羅閉饒俐勸英㛪本道。吀汝求朱碎。聖號丕离批先羅柴奇炳。諸爫策尼於几𢄂渃于修計。自德主支秋囉代羅𢆥沒𠦳糝𤾓𨑮𠄻。
Ấy là bấy nhiêu lời khuyên anh em bổn đạo. xin nhớ cầu cho tôi. thánh hiệu Phi-li-phê tên là Thầy cả Bỉnh. đã làm sách này ở Kẻ Chợ nước Vu-tu-ghê. tự Đức Chúa Giê-su ra đời là năm một nghìn tám trăm mười lăm.
-----------------------------
𝗖𝗵ú 𝘁𝗵í𝗰𝗵
(1 Novena là tiếng Latinh cho kinh cửu nhật, là kinh đọc trong 9 ngày.
(2 Dottore là Tiến sĩ Thần học
(3 Portugal là nước Bồ Đào Nha, Vu-tu-ghê là cách người An Nam đương thời phiên âm
(4 Igreja là Hội Thánh trong tiếng Bồ Đào Nha. Khác với cách đọc Y-ghê-rê-xa từ Iglesia của Dòng Đaminh nước Tây Ban Nha
(5 巴至宝山莫為空手 là thành ngữ Hán văn, nghĩa là trèo đến núi châu báu thì không thể ra về tay trắng
(6 Moisés là Tiên tri trong Cựu Ước
(7 Israelitas là dân Do Thái
(8 Egito là nước Ai Cập
(9 Sacramento là Bí Tích
(10 Phượng là chiếu chỉ vua ban
(11 Thầy cả Alexandre de Rhodes, SJ đến Đàng Ngoài trước hết, là cha đẻ chữ Quốc Ngữ
(12 Thầy cả Girolamo Maiorica, SJ đến Đàng Ngoài ít lâu sau, là cha đẻ chữ Nôm Công giáo
(13 Papa là Đức Giáo hoàng
(14 Indulgencia là ơn đại xá
(15 từ nghi vấn, yến trình nghĩa là đến rước nhưng không rõ
(16 trì cấp là sớm muộn
(17 từ nghi vấn, Tiên Cảnh viên thì là cảnh đẹp nhưng không rõ
(18 thánh Agostinho thành Hippo
(19 欽存於中,宮見於外 là câu biền ngữ Hán văn nghĩa là bề trong thì cung kính, bề ngoài phải khiêm nhượng. Có lẽ Cụ Bỉnh viết sai chữ “cung”
(20 contrição là hối tội trong tiếng Bồ Đào Nha

Nguồn: FB Joseph Xavier Nguyễn Nam 

Kinh dâng mọi người dân An Nam cho Đức Bà Maria Đồng Trinh

KINH DÂNG MỌI NGƯỜI NƯỚC AN NAM CHO ĐỨC BÀ MARIA ĐỒNG TRINH

 Người Công giáo Việt Nam, cách riêng giáo dân miền Bắc, không ai là không thuộc lời kinh "dâng mọi người dân An Nam cho Đức Bà Maria Đồng Trinh".

Cho đến nay, không ai biết xuất xứ chính xác của bản kinh này. Tuy nhiên, ít nhất, vào tháng Sáu năm 1925, Đức Giám Mục Pierre-Jean-Marie Gendreau Đông, M.E.P. Đại diện Tông tòa Hà Nội, đã cho phép nhà in Kẻ Sở xuất bản và phổ biến bản kinh này rộng khắp Giáo phận Hà Nội.​

phailamgi_100 năm phổ biến bản kinh dâng mọi người dân nước An Nam cho Đức Mẹ_cv1.jpg

Đức Giám Mục Pierre-Jean-Marie Gendreau Đông, M.E.P. 
Đại diện Tông tòa Hà Nội (1924-1935)

Điều đáng lưu ý, cho đến nay, ngoài một số từ ngữ đã được sửa đổi do sự thay đổi tất yếu về ngôn ngữ, nội dung bản kinh vẫn giữ nguyên:

Lạy Rất Thánh Đức Bà Mẹ Đức Chúa Trời và Mẹ chúng con, nay chúng con sấp mình xin dâng cho Mẹ rất nhân từ trót mình chúng con, là thân sức, sự sống, các việc làm và mọi sự thuộc về chúng con. Lại chúng con cũng lấy lòng con cái mà dâng cho Đức Mẹ mọi miền trong dân nước Việt Nam này.

Trước là xin Đức Bà làm Mẹ các linh mục, cùng những người giúp việc giảng đạo thánh, để mọi đấng bậc được lòng sốt sắng, làm gương sáng và chịu khó lập công cho bền lòng. Lại xin làm Mẹ các bổn đạo, và phù hộ cho các con cái hằng được thêm nhiều, và tiến tới đi đàng nhân đức một ngày một hơn. Sau hết, xin làm Mẹ những ai còn đi đàng lạc mà đưa về sự sáng thật là đạo thánh Đức Chúa Trời.

Chớ gì hết mọi người trong nước Việt Nam này, nhờ Máu cực châu báu Con Đức Mẹ đã đổ ra mà cứu chuộc, và nhờ công nghiệp Đức Mẹ cầu bầu, mà được tìm đến cùng Trái Tim Cực Trọng Đấng Cứu Thế là cội rễ sự nên lành nên thánh, để sau nên một đoàn chiên theo một Chúa chiên.

Đức Bà phù hộ cho kẻ có đạo.

*Cầu cho chúng con.

Đức Mẹ thông ơn Thiên Chúa.

*Cầu cho chúng con.

Nữ Vương nước Việt Nam ngự trên trời.

*Cầu cho chúng con.


phailamgi_100 năm phổ biến bản kinh dâng mọi người dân nước An Nam cho Đức Mẹ_cv2.jpg

phailamgi_100 năm phổ biến bản kinh dâng mọi người dân nước An Nam cho Đức Mẹ_1.jpg


Về nội dung, lời kinh rất dễ đọc và giầu ý nghĩa. Lời kinh không chỉ gồm những ý nguyện riêng tư, cầu cho bản thân, mà còn xin cho mọi thành phần trong dân nước Việt Nam, nhất là những người chưa biết Chúa; cách cụ thể: xin cho các mục tử sốt sáng làm gương, bền chí lập công; xin cho giáo dân thêm nhiều và tiến tới trên đường nhân đức; lại xin cho những người xa lạc được ơn trở về; những người chưa nhận biết Chúa được gặp Chúa.

Có thể nói, lời kinh này, cùng với các lời kinh đơn sơ bình dị khác, đã góp phần nuôi dưỡng đức tin của biết bao thế hệ người Công giáo Việt Nam hàng trăm năm nay, cách riêng vào những thời điểm khó khăn của lịch sử Giáo hội, những lúc Giáo hội miền Bắc bị cấm cách.

Tiếc rằng, những lời kinh ấy, cách riêng, kinh "dâng nước An Nam (Việt Nam) cho Đức Bà Maria Đồng Trinh" đang ngày càng vắng bóng nơi các gia đình, trong các thánh đường.

Mong sao, trong năm thánh hy vọng 2025, để "cùng nhau loan báo Tin Mừng", lời kinh Dâng mọi người dân nước An Nam cho Đức Mẹ lại được vang lên khắp nơi trên đất nước này, để nhờ Mẹ, mọi người tìm đến với Chúa Giêsu, Cứu Chúa của chúng ta.​
Nguồn: https://phailamgi.com/threads/100-nam-pho-bien-ban-kinh-dang-moi-nguoi-dan-nuoc-an-nam-cho-duc-me.3678/#post-5522

Bàn về chữ “Đức” trong Nôm Công giáo




Bàn về chữ “Đức” trong Nôm Công giáo

Trong văn bản Nôm, ta thường gặp chữ “Đức” trong các danh xưng tôn kính, ví dụ: Đức Chúa Trời, Đức Mẹ, Đức Phật Thích Ca, Đức Thái Thượng Lão Quân, Đức vua, Đức thánh Trần...

Ở đây, chữ Đức (德) không được sử dụng theo nghĩa danh từ chỉ “đạo đức”, “nhân đức” như trong ngữ nghĩa truyền thống của chữ Hán (chữ Nho), mà vận hành như một từ đệm tôn xưng (honorific prefix / reverential marker), đặt trước danh xưng, chức vị hoặc tước hiệu, nhằm biểu thị sự kính trọng dành cho những bậc được tôn kính trong trật tự văn hóa – tôn giáo.

Về phương diện ngữ dụng học, có thể nhận diện hai cấp độ biểu thị sự tôn kính trong hệ thống xưng hô tiếng Việt truyền thống:

Mức rất kính trọng:
• Trực tiếp: đức
• Gián tiếp: đấng, ngài

Mức kính trọng:
• Trực tiếp: ngài
• Gián tiếp: người

Trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, ông Paulus Huỳnh Tịnh Của ghi nhận:
“Đức: tiếng xưng tặng các đấng cao sang, tài trí; tiếng chỉ việc nhơn lành, lòng lành: Đức Chúa Trời. Để tiếng đức cho trọng đấng bậc, không dám xưng ngay là Chúa Trời, về các tiếng sau này cũng vậy: chúa, vua, thánh, giáo tông, giám mục, cha, thầy, phu tử, ông, mụ, bà (dùng tiếng đức cũng về một ý)” (trang 330)

Đoạn định nghĩa này cho thấy rõ chức năng tôn xưng của chữ “đức”, trong đó yếu tố kính trọng giữ vai trò trung tâm, còn nội hàm “đạo đức” chỉ là một lớp nghĩa phụ, không phải chức năng chính trong các cấu trúc danh xưng.

Về phương diện từ loại học, giới nghiên cứu hiện nay chưa có sự thống nhất trong việc phân loại chữ “đức” theo nghĩa đặc thù này:

1. Từ Điển Việt Nam (Ban Tu Thư Khai Trí, 1971) xếp vào đại danh từ.

2. Linh mục Antôn Trần Văn Kiệm (Giúp đọc Nôm và Hán Việt, 2004) và Tiểu Ban 
Từ Vựng – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN (2011) xem là mạo từ (quán từ).

3. Một số nhà nghiên cứu khác xếp vào nhóm từ biệt loại (classless particles / special functional words).

Sự bất nhất này phản ánh đúng thực trạng của chữ “đức”: nó không vận hành theo các phạm trù từ loại thông thường, mà thuộc nhóm đơn vị ngữ pháp – ngữ dụng chuyên biệt trong hệ thống tôn xưng.

Trong cách dùng của Công giáo, chữ “đức” chỉ kết hợp với:
1. Danh từ chỉ người: Đức Chúa, Đức Bà, Đức Giáo Hoàng, Đức Giám mục…
2. Danh từ trừu tượng luân lý – thần học: đức tin, đức cậy, đức mến, đức khiết tịnh…

và không bao giờ kết hợp với danh từ chỉ vật hay đồ vật. Điều này cho thấy tính chọn lọc ngữ nghĩa (semantic restriction) rất rõ của đơn vị này.

Về cấu trúc danh xưng, truyền thống trước thế kỷ XX thường dùng: Đức Chúa Giêsu, Đức Bà Maria, Đức Thánh Phapha …

Trong sử dụng đương đại, xuất hiện khuynh hướng giản lược: Đức Giêsu, Đức Maria, Đức Phanxicô.

Tuy nhiên, về mặt chuẩn mực truyền thống, nhiều học giả và người nghiên cứu phụng vụ cho rằng cách giản lược này không hoàn toàn phù hợp với cấu trúc danh xưng cổ điển, vốn gắn “đức” với tước vị hơn là tên riêng.

Tóm lại Trong các bản văn Công giáo, chữ “Đức” vận hành như một đơn vị ngôn ngữ tôn xưng chuyên biệt (specialized honorific marker), biểu thị sự kính trọng theo quy ước văn hóa – tôn giáo, không còn mang nội hàm đạo đức học (virtue ethics) theo nghĩa truyền thống của Nho học. Đây là một hiện tượng ngôn ngữ đặc thù của Nôm Công giáo, nằm ở giao điểm giữa ngữ nghĩa học, ngữ dụng học, Hán-Nôm học và thần học văn hóa.

Về tên thánh Du-minh-gô, thánh Tổ phụ dòng Đa Minh

 


Tấm gạch có khắc tên:
Thánh hiệu Du-minh-gô Thường tử vì đạo

CÁCH VIẾT TÊN THÁNH TỔ PHỤ

Thánh Tổ Phụ ĐA MINH là người Tây Ban Nha, Ngài được thân sinh đặt tên theo tiếng Tây Ban Nha là Domingo. Tiếng La Tinh là Dominicus nghĩa là người thuộc về Chúa. Khi các bậc tiền bối của Dòng đặt chân lên đất Việt, các ngài muốn hội nhập đời sống của Dòng vào nền văn hóa của dân tộc Việt. Vì thế, trên bình diện ngôn ngữ :

1.Các ngài đã phiên âm tên thánh Tổ Phụ thành từng âm tiết rời cho dễ đọc, vì Tiếng Việt là một thứ tiếng “đơn tiết tính”. Tên Tây Ban Nha của Thánh Tổ Phụ là Domingo được phiên âm là Du-min-gô; tên La Tinh là Dominicus thì phiên âm là Đô-mi-ni-cô.

2.Nhưng ở trong tiếng Việt, mỗi âm tiết = với một từ, âm tiết tiếng nước ngoài thì không có nghĩa vì chỉ là đơn vị phát âm, nhưng âm tiết = từ trong tiếng Việt thì có nghĩa như một từ của các tiếng Tây khác. Nếu chỉ phiên âm tên thánh Tổ Phụ thành “Du-minh-gô” hay “Đô-mi-ni-cô” thì quả là chưa thực sự hội nhập vào nền văn hóa Việt Nam, tên gọi của Thánh Tổ Phụ chưa trở thành “từ tiếng Việt”. Chính vì thế mà phải tiến tới bước thứ hai, là sau khi phiên âm, ta phải cho mỗi âm ấy một nghĩa. Đa Minh là tên của thánh tổ phụ được phiên âm ra tiếng Tàu nhưng đọc theo giọng Hán Việt. Người Tàu phiên âm tên riêng Dominic là 多米 [duōmǐ], Hán Việt đọc là Đa Minh. Sau khi mượn âm, đến bước tiếp theo là mượn nghĩa, để từ phiên âm ấy thự sự trở thành từ Hán Việt, hội nhập vào lớp từ tiếng Việt.

Tương truyền rằng khi thân mẫu Thánh Tổ Phụ mang thai thánh Đa Minh, thì bà đã chiêm bao thấy hình ảnh “Con chó ngậm bó đuốc chạy khắp hòan cầu”. Với ý nghĩa của hình ảnh này, các bậc tiền bối của Dòng đã chuyển âm tên gọi thánh Tổ Phụ thành Đa Minh. (Ta hiểu nôm na : “Đa” là nhiều, “Minh” là ánh sáng từ trên ban xuống). Khi chuyển như vậy phần nào giữ được âm gần giống âm gốc, nghĩa cũng có nét nào đó liên quan đến cuộc đời và tên gọi của thánh Tổ Phụ. Và việc phiên âm đạt đến đích của nó.

3.Tiếng Việt hiện nay quy định, tên riêng của một người thì phải viết hoa mọi chữ cái đầu, hoặc viết in hoa hết mọi chữ, vì thế tên thánh Tổ Phụ theo tiếng Việt sẽ chỉ được viết là “Đa Minh” hoặc “ĐA MINH”. 

-  Ảnh của Địch Dzuy Khôi

Nguyễn Thụy Đan, nhà nghiên cứu Hán Nôm và lịch sử Đông Á

 


Nguyễn Thụy Đan là nhà thơ và nghiên cứu sinh ngành lịch sử Đông Á tại Đại học Columbia, lớn lên trong môi trường Âu Mỹ nhưng dành trọn đam mê cho Hán Nôm và lịch sử tư tưởng Việt Nam

***

Sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ, Nguyễn Thụy Đan sớm bộc lộ niềm say mê với Hán Nôm và văn chương. Dù không rõ nguồn cơn cụ thể, anh nhớ về những dấu mốc đầu tiên khi tiếp cận cổ ngữ. Lần đầu đặt chân đến Việt Nam ở tuổi 12, anh háo hức nhờ họ hàng tìm thầy dạy chữ Nôm, nhưng không thành. Thay vào đó, anh bắt đầu tiếp cận thông qua hai cuốn tự điển chữ Nôm và Hán Việt của Thiều Chửu. Năm 15 tuổi, trong một mùa hè về Việt Nam giúp việc các dì dòng Đức Bà Truyền Giáo, anh tình cờ được một bà soeur lớn tuổi giới thiệu những bài thơ Đường, mở ra thế giới văn chương mà anh gắn bó đến hôm nay.

Với Nguyễn Thụy Đan, việc tự học Hán Nôm không phải là một thành tích để tự hào hay khoe khoang, mà đơn giản là một phản ứng tự nhiên trước hoàn cảnh. Hiện là nghiên cứu sinh ngành lịch sử Đông Á tại Đại học Columbia theo diện học bổng, anh tập trung nghiên cứu về diễn ngôn và văn hóa sĩ phu cuối thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 19. Đồng thời, anh giảng dạy với vai trò trợ giảng tại Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Á của trường. Bên cạnh công việc nghiên cứu, Nguyễn Thụy Đan còn là một nhà thơ. Năm 2024, tập thơ đầu tay của anh viết bằng tiếng Việt, in illo tempore, được Nhà xuất bản Thanh Niên và FORMApubli ấn hành tại Việt Nam.


Chào Thụy Đan! Anh có nhớ cuốn sách tiếng Việt đầu tiên mình đọc không, và nó đã ảnh hưởng như thế nào đến tiến trình tìm hiểu chữ Nôm của anh?

Tôi không nhớ chính xác, nhưng có lẽ đó là một trong hai cuốn Thánh Giáo Kinh Nguyện và Chân Lý Đời Đời. Thánh Giáo Kinh Nguyện là sách kinh của giáo phận Hà Nội, nhưng bản tôi đọc khi còn nhỏ là một ấn bản rất cũ, trong đó vẫn còn những lời cầu nguyện cho các bậc vua chúa và quan quyền cai trị nước An Nam. Còn Chân Lý Đời Đời là bản dịch từ trước tác của Alfonso Liguori – người sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế – với những suy niệm về sự ngắn ngủi và phù du của kiếp người, về cái chết, về sự thối rữa của xác thân… Câu trả lời này có lẽ hơi bất ngờ, nhưng nếu phân tích kỹ, tôi nhận ra mình đã chịu ảnh hưởng không ít từ những cuốn sách ấy. Ngay từ nhỏ, tôi đặc biệt thích lối văn nôm na trong các sách kinh Công giáo, tất nhiên là phong cách hành văn của thời trước, chứ không phải cách viết ngày nay. Có lẽ chính điều đó đã thôi thúc tôi tìm hiểu về chữ Nôm. Đọc nhiều sách như vậy cũng dần định hình cách tôi nhìn nhận và sử dụng tiếng Việt.

- Tác giả: Lê Lâm

Đọc toàn bộ bài viết theo đường dẫn:

https://www.tatlerasia.com/power-purpose/impact/nguyen-thuy-dan-researcher-of-han-nom-and-east-asian-history-vn


Chữ Nôm Công Giáo trên văn bia Hậu vùng Bắc Bộ Việt Nam

 Một số thông tin có liên quan tới chữ Nôm Công Giáo, trích từ tác phẩm "Nghiên cứu chữ Nôm trên văn bia Hậu vùng Bắc Bộ Việt Nam" của tác giả Đỗ Thị Bích Tuyển, được đăng trên trang Vietnamica: https://revues.vietnamica.online/publications.../vi/book36/










Vinh Danh Thiên Chúa Trên Trời...

 Giới Thiệu Đặc Biệt Trong Mùa Vọng 2025

Kính mời qúy vị Cùng Học Chữ Nôm Công Giáo qua Phương Pháp Phân Tích Cấu Tạo Đơn Tự Nôm.

“Sắc lệnh” thiết lập nhà thờ Đức Bà Lên Trời làng Thạch Bi vào thế kỷ 19 ở Địa phận Trung (Bùi Chu hiện nay)

 



Thêm một “sắc lệnh” thiết lập một nhà thờ Công giáo thế kỷ 19 ở Địa phận Trung (Bùi Chu hiện nay), lưu giữ
Bản phiên âm xin ghi lại theo từng cột từ phải qua trái (đã được Lê Hà hiệu đính)
1 Nhân danh Đức Chúa Trời. A-men
2 Pha-tê-r [1] Pha-ra-tê-r [2] Mạc-si-mua/mo Phê-r-nan-đô [3] dòng ông thánh Đô/Do-
3 minh-gô [4] ơn Đức Chúa Trời và ơn Đức Thánh Pha-pha [5] Vít vồ [6] “Áp-xô-phô-li-ta-nô” (??) [7] và
4 Vi-ca-ri-ô A-phô-xút-tô-li-cô [8] Địa phận Trung trong nước An Nam. Xin cho các
5 kẻ xem tờ này được bình yên
cùng làm phép Ben-song [9] cho được mọi sự lành.
6 Vốn thói lành các nước có đạo bên phương Tây đã quen chọn lấy Đức Chúa Giê-su, Đức Bà hay là ông thánh bà thánh
7 nào làm quan thầy riêng trong nhà trong nước trong thành trong làng cùng trong nhà thánh ấy mà có
8 ý cậy công nghiệp và lời các thánh kêu van bàu cử trước mặt Đức Chúa Trời cho ta khi
9 còn sống ở đời này được bắt chước việc lành các thánh biết đường giữ đạo nên được bình yên
10 phần hồn phần xác đời này và đời sau cùng đã nên thói lành trong thánh I-ghê-rê-xa [10]
11 vậy. Thầy cũng ước ao cho bổn đạo ta được bắt chước như thể ấy mà đương khi ước ao
12 làm vậy thì xảy thấy bổn đạo làng Thạch Bi là con chiên địa phận thầy có nhiều kẻ muốn
13 hợp một ý cùng nhau cho được giúp đỡ nhau phần hồn phần xác mà chọn lấy Đức Bà
14 lên trời làm quan thầy riêng mình cho nên xin thầy cho được lập ra một họ gọi là họ
15 Đức Bà lên trời thì lòng thầy mừng rỡ bội phần cùng cho lập như vậy. Và truyền cho
16 thầy cả đương coi sóc địa phận này rày cùng các thầy cả sẽ coi sóc sau này phải ra
17 sức coi sóc họ này cho một ngày một đi đàng nhân đức hơn nữa. Song le việc chung phải
18 có kẻ cai quản và có thứ tự cùng lề luật phép tắc cho nghiêm trang mới được tốt lành
19 cho nên các kẻ ăn mày thông công trong họ này phải ra sức giữ những điều đã chép trong
19 sách lề luật về họ này thì mới trông cho được vững vàng chắc chắn mà chớ
20 nhân danh Cha và Con và Phi-ri-tô Sang-tô [11]. Amen
21 mà cho ai nấy được lấy làm chắc chắn thì thầy đã đóng con chấm cùng phê tên thầy và tên ký lục thầy trong tờ này
22 từ
23 Đức Chúa Giê-su ra đời là một nghìn chín trăm x x. năm.
—-
Chú Thích về các phiên âm Nôm trong bản gốc
[1] nguyên văn: Pha-tê-r, phiên âm từ chữ Pater (cha)
[2] Pha-ra-tê-r, phiên âm từ chữ Frater (anh em, cách tu sĩ gọi nhau)
[3] Mạc-si-mua/mo Phê-r-nan-đô = Maximo Fernandez, tên Việt là Định, giám mục quản nhiệm địa phận tông tòa Trung Đàng Ngoài, 1898-1907.
[4] Dòng ông thánh Do/Đô-minh-cô/gô bây giờ gọi là dòng Đa Minh hay dòng Anh em Thuyết giáo (OP).
[5] Đức Thánh Pha-Pha, gốc từ chữ Papa (tên thân mật gọi Đức giáo hoàng)
[6] Nguyên văn chỉ ghi Vít-vồ, gốc từ chữ obispo (giám mục), không có chữ “hiệu toà”, nhưng trước năm 1960, các giám mục đóng vai trò giám quản tông tòa (đại diện giáo hoàng để cai quản) nên tất cả là hiệu tòa (lấy danh nghĩa một tòa giám mục cổ xưa ở Tiểu Á hoặc Bắc Phi không còn tồn tại).
[7] (?) theo sử liệu thì ngài là giám mục hiệu tòa của Attuda.
[8] Vi-ca-ri-ô A-phô-xút-tô-li-cô, phiên âm từ chữ Vicarius Apostolicus (giám quản tông tòa, giám mục đại diện tông tòa)
[9] Phép Ben-song, từ chữ bencaõ tiếng Bồ (phép lành)
[10] Y-ghê-rê-xa, phiên âm từ Ireja hoặc Iglesia, ngày nay gọi là giáo hội
[11] Phi-ri-tô Săng-tô, phiên âm từ tiếng Bồ Spirito Santo (Chúa Thánh Thần)
Ảnh tư liệu do bạn Mai Nguyễn cung cấp

“Sắc lệnh” thiết lập nhà thờ thánh Giuse tại Quần Anh, địa phận Trung (Bùi Chu)

 


Đây là một “sắc lệnh” thiết lập một nhà thờ Công giáo thế kỷ 19 ở Địa phận Trung (Bùi Chu hiện nay), lưu giữ ở Giáo họ Phương Đức— Giáo xứ Triệu Thông (Yên Định-Hải Hậu-Nam Định).
Trong bản văn gốc có khá nhiều từ phiên âm, cần chú thích mới hiểu. Một điều khá thú vị là các cụ chế đã chế ra một ký tự riêng để phiên âm chữ r ở cuối âm tiết
Bản phiên âm xin ghi lại theo từng cột từ phải qua trái
1. Nhân danh Đức Chúa Trời. A-men
2. Pha-tê-r [1] Pha-ra-tê-r [2] Ba-na-bê Ga-r-thi-a Lô-xôn [3] Khang,
3. dòng ông thánh Đô-minh-gô [4] ơn Đức Chúa Trời và ơn Đức Thánh Pha-pha [5] Vít
4. vồ [6] Bi-phi-li-én-xây [7] và Vi-ca-ri-ô A-phô-xút-tô-li-cô [8]
5. Địa phận Trung trong nước A Nam. Xin cho các kẻ xem tờ này được bình yên
6. cùng làm phép Biên-song [9] cho được mọi sự lành.
7. Vậy thầy dùng phép tòa thánh A-phô-xút-tô-li-ca [10] thông cho mà lấy họ
8. ông thánh Giu-se, này đã lập ngày xưa trong nhà thờ làng Quần Anh hạ này
9. làm vững vàng chắc chắn và gọi là nhà thờ ông thánh Giu-se cùng truyền
10. cho thầy cả đương coi sóc địa phận rày và các thầy cả sẽ coi sóc
11. sau này phải ra sức coi sóc họ này cho một ngày một đi đường nhân đức
12. hơn nữa song le việc chung phải có kẻ cai quản và có thứ tự cùng có
13. lề luật phép tắc cho nghiêm trang mới được tốt lành cho nên các kẻ ăn mày
14. thông công trong họ này phải ra sức giữ những điều đã chép trong sách lề luật
15. về họ này thì mới trông cho được vững vàng chắc chắn mà chớ.
16. Nhân danh Cha và Con và Phi-ri-tô Sang-tô [11]. Amen.
17. mà cho ai nấy được lấy làm chắc chắn thì thầy đã đóng  con chấm cùng phê
18. tên thầy và tên ký lục thầy trong tờ này
19. Từ
20. Đức Chúa Giê-su ra đời là một nghìn tám trăm sáu mươi sáu năm.
—-
Bản dịch của nhóm Thiên Hùng Sử Bùi Chu.
Có nhiều chữ phiên âm trong mà bản dịch đã diễn nghĩa nên tôi thêm chú thích để các bạn yêu thích Hán Nôm có thể xem.
NHÂN DANH ĐỨC CHÚA TRỜI. AMEN.
Linh mục [1] tu sĩ [2] Barnabe Garcia Cezon Khang, [3] OP [4]
Nhờ ơn Thiên Chúa và ơn Đức Giáo Hoàng [5] Làm Giám mục hiệu toà [6] Byblus [7]
Cùng làm Giám mục hạt đại diện Tông tòa [8] Trung Đàng Ngoài (Địa phận Trung) trong nước Annam
Xin cầu cho kẻ đang xem tờ này được bình yên cùng ban phép lành [9] Giám mục cho kẻ ấy nữa.
Vậy thầy dùng quyền Tông Tòa [10] của mình đã được truyền cho.
Mà lấy họ ông thánh Giuse đã lập từ trước trong làng Quần Anh hạ này. Làm nên một nhà thờ vững vàng chắc chắn, gọi là Nhà thờ ông thánh Giuse.
Thầy cũng truyền cho các linh mục đang coi sóc địa phận xứ (tức Quần Phương).
Cùng các linh mục sẽ coi sóc trong tương lai, từ rày phải ra sức coi sóc họ này sao cho giáo dân trong họ này càng ngày càng tiến nhân đức hơn nữa.
Song việc chung của họ giáo phải có người cai quản, phải có thứ tự, phải có lễ luật phép tắc cho nghiêm trang thì mọi việc mới tốt lành được.
Vậy các giáo hữu trong họ là người chịu các phép đạo Thánh, cùng hiệp thông với Hội Thánh, thì phải ra sức giữ những điều thầy sắc lệ luật phép tắc Hội Thánh.
Thầy rất mong vâng bậc chăn chiên giáo hữu mình.
NHÂN DANH CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN [11]. AMEN.
Vậy để mọi người bảo đảm, thì thầy sẽ đóng dấu trên thư này, cùng ký tên mình, và của thầy linh mục thư ký của thầy nữa.
Làm vào năm Chúa Giáng sinh 1866.
[đóng dấu và ký tên
Barnabe Cezon Đức Thầy Khang O.P.
Giám mục Đại diện Tông Tòa
Dominicus Cụ Quản
Thư ký]
—-
Chú Thích về các phiên âm Nôm trong bản gốc
[1] nguyên văn: Pha-tê-r, phiên âm từ chữ Pater (cha)
[2] Pha-ra-tê-r, phiên âm từ chữ Frater (anh em, cách tu sĩ gọi nhau)
[3] Ba-na-bê Ga-r-thi-a Lô-xôn Khang = Berbabe Garcia Cezon, tên Việt là Khang, giám mục quản nhiệm địa phận tông tòa Trung Đàng Ngoài, 1864-1879.
[4] Dòng ông thánh Do/Đô-minh-cô/gô bây giờ gọi là dòng Đa Minh hay dòng Anh em Thuyết giáo (OP).
[5] Đức Thánh Pha-Pha, gốc từ chữ Papa (tên thân mật gọi Đức giáo hoàng)
[6] Nguyên văn chỉ ghi Vít-vồ, gốc từ chữ obispo (giám mục), không có chữ “hiệu toà”, nhưng trước năm 1960, các giám mục đóng vai trò giám quản tông tòa (đại diện giáo hoàng để cai quản) nên tất cả là hiệu tòa (lấy danh nghĩa một tòa giám mục cổ xưa ở Tiểu Á hoặc Bắc Phi không còn tồn tại).
[7] Bi-phi-li-én-xây (Byblus)
[8] Vi-ca-ri-ô A-phô-xút-tô-li-cô, phiên âm từ chữ Vicarius Apostolico (giám quản tông tòa, giám mục đại diện tông tòa)
[9] Phép Biên-song, từ chữ bencaõ tiếng Bồ (phép lành)
[10] A-phô-xút-tô-li-ca, phiên âm từ chữ Apostolica (thuộc về thẩm quyền Toà Thánh)
[11] Phi-ri-tô Săng-tô, phiên âm từ tiếng Bồ Spirito Santo (Chúa Thánh Thần)

Nguồn: FB Anh Q Tran