Vài nhận xét về Tên các thánh viết bằng chữ Nôm trong Kinh Cầu Các Thánh

 

Vài nhận xét về Tên các thánh viết bằng chữ Nôm 

trong Kinh Cầu Các Thánh, (ấn bản chữ Nôm 1925).


1. Tên các thánh đều là Tên gọi hàng ngày, chứ không phải là Họ. Ở đây chúng ta không đào sâu đề tài „Việc xưng hô, chào kính của người Việt“. Việc xưng hô, chào kính của người Việt rất khác biệt so với người Âu Mỹ cũng như rất khác biệt so với người Tầu, nhưng lại gần gụi với truyền thống Công Giáo.

Tiếp nối truyền thống của Chúa Giêsu và các thánh Tông Đồ, hiện nay trên toàn thế giới, các vị Giám Mục Công Giáo đều dùng Tên Gọi trong khi giao tiếp.

Trước kia nhiều Giám Mục, thừa sai, khi rao giảng tin mừng tại Việt Nam, các vị giám mục ấy tự đặt cho mình một Tên Việt Nam, với cái tên Việt Nam ấy giáo dân dễ nhớ, dễ gọi. Về phần minh, giáo dân Việt Nam cũng bắt chước các vị tu sĩ, đặt cho mình một Tên Tây, và gọi là Tên Thánh Quan Thầy. Thánh Quan Thầy là vị thánh bổn mạng của mình, là tấm gương sáng cho mình học hỏi và bắt chước trong suốt cuộc đời.

Thời giáo hội sơ khai thế kỷ 17, có giáo dân VN chỉ dùng tên thánh quan thầy, làm tên gọi hằng ngày, bỏ cả tên gọi của mình, khiến cho ngày nay chúng ta không thể truy cứu tiểu sử rõ ràng. Ví dụ Thánh An Rê Phú Yên.

Ngày nay nhiều vị Giám Mục Việt Nam cũng đang đi vào vết xe đó, khi tự gọi hoặc được gọi trống là Đức Tổng Giuse, có khi còn vắn tắt hơn, gọi là Đức Tổng, Đức Cha Giu Se, Đức Cha Phao Lô... trong các buổi lễ, trong các bài viết trên báo chí. Việc xưng hô cắt xén đó còn nguy hiểm vì nó cắt bỏ phần cốt lõi, phần quan trọng nhất: Giám Mục. Giám Mục là chức vị cao trọng, là chức thánh. Chỉ nhớ đến phần Đức Tổng, có vẻ tâng bốc, mà xem nhẹ sứ vụ Giám Mục chăng?

Hơn thế nữa, sau năm 1975, tại Việt Nam có thêm cách gọi „xếch mé“: Giê Su Ơi, Giê Su, Đức Giê Su... (Xin xem các bản dịch Thánh Kinh gần đây). Tên gọi Giê Su là một tên gọi rất thông thường, rất phổ biến trong xã hội Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha dành cho các trẻ nam, phái nam. Nhưng người Công Giáo chỉ tôn thờ ĐỨC CHÚA GIÊ SU vì Ngài là đấng cứu thế, cứu độ trần gian.

Một bài học rút ra từ Sách Nôm Công Giáo là chúng ta chỉ gặp nhóm chữ ĐỨC CHÚA GIÊ SU. Nhóm chữ ĐỨC CHÚA GIÊ SU là một cách xưng hô đầy đủ ý nghĩa với lòng kính trọng, tôn thờ.

2. Tên các thánh bằng chữ Nôm có nhiều cách viết khác nhau, tùy theo ngôn ngữ của người nói, tùy theo giọng nói thay đổi theo địa phương, thay đổi theo thời đại : Đàng Trong, Đàng Ngoài.

Đức Chúa Giê Su

Cách viết 1: Chi 支 Thu 秋.

Cách viết 2: Chi 支 Chu 䇬.

Maria

Cách viết 1: Ma 瑪 Di 移 A 亞

Cách viết 2: Ma 瑪 Đi 𠫾 A 亞

Phan Xi Cô

Cách viết 1: Phan 潘 Xi 吹 Cô 姑.

Cách viết 2: Phan 潘 Chi 支 Cô 姑.

Phê Rô

Cách viết 1: Phê 批 Rô 嚕

Cách viết 2: Vê [為圭] Rô 嚕

Cách viết 3: Bá Đa Lộc

Phi Li Phê

Cách viết 1: Phi 丕 Li 離 Phê 批

Cách viết 2: Phi 丕 Lip/ Lạp 臘 Phê 批

3. Một đơn tự Nôm trong tên các thánh có thể đọc bằng nhiều âm khác nhau.

Á 亞 cũng đọc là A 亞 .

A 亞 Men 綿

Mát 沫 Thi 尸 Á 亞 .

A 亞 Na 那 Ta 些 Xi 吹 A 亞

Á 亞 Ga 𤠄 Ta 些

Lu 卢 có thể đọc là Lô, Lư

Lu 卢 Ca 

Lô [忄卢] Ren [糹蓮 ] Sô 芻

Si 吹 có thể đọc là Si, Suy, Xê, Xi

Phan 潘 Xi 吹 Cô 姑.

Xê 吹 Ba 𠀧 Ti 卑 Á 亞 Nô 奴.

Giê 支 Va 𢯷 Si 吹 Ô 烏.

Phô 鋪 Ta 些 Si 吹 Ô 烏 .

Gô 姑 có thể đọc là Cô 姑

Ghê 計 Gô 姑 Ri 移 Ô 烏.

Ni 尼 Cô 姑 La 羅 Ô 烏.

Cu 俱 có thể đọc là Câu, Gu

Âu 謳 Cu 俱 Ti 卑 Nô 奴.

4. Mẫu tự A hoặc O tận cùng trong tên các thánh có thể xác định phái tính, giống đực, giống cái.

Những tên với mẫu tự Ô tận cùng thường là tên phái nam, giống đực:

Đô 都 Mi 眉 Ni 尼 Cô 姑

Phan 潘 Xi 吹 Cô 姑 .

Những tên với mẫu tự A tận cùng thường là tên phái nữ, giống cái:

Á 亞 Ga 𤠄 Ta 些 .

Lu 卢 Xi 吹 A 亞 .

Thê 棲 Xi 吹 Ly 離 Á 亞 .

Ca  (Hán Nôm A Privat E 243) Ta 些 Ri 𠫾 Na 那.

Có lẽ các giáo đoàn đầu tiên đến truyền giáo tại Việt Nam thường dùng tiếng Bồ Đào Nha (hoặc Tây Ban Nha) nói với nhau hằng ngày cho dù họ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, cho nên họ cũng phát âm tên các thánh theo tiếng Bồ và cũng dựa theo cách phát âm ấy mà viết thành chữ Nôm. Các tên ấy còn tồn tại cho đến ngày nay.

Trong tiếng Bồ, chỉ có hai loại từ: giống đực và giống cái. Những danh từ chung, danh từ riêng tiếng Bồ với mẫu tự Ô tận cùng thường thuộc giống đực, hoặc là tên phái nam.

Những danh từ tiếng Bồ với mẫu tự A tận cùng thường thuộc giống cái, hoặc là tên phái nữ.- o carro : Cái xe - a porta : Cái cửa - a casa : Cái nhà

Tất nhiên cũng có ngoại lệ, ngoại lệ này mọi người phải học và nhớ thuộc lòng. Ví dụ o clima : khí hậu - o dia : ngày

5. Việc viết tên tiếng nước ngoài bằng chữ Nôm rất phức tạp. Việc phức tạp ấy có hai lý do:- Dùng tiếng quốc gia nào để ghi âm- Cách tách các tên riêng nước ngoài ra thành âm tiết

Việc dùng tiếng nước nào (La Tinh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Nho...) để ghi âm rất quan trọng, nhờ biết việc ấy chúng ta đọc sách Nôm Công Giáo đỡ vất vả hơn rất nhiều..

Cùng một từ ngữ Ân Sủng đọc theo tiếng Bồ hoặc đọc theo tiếng Tây Ban Nha mà viết thành nhóm từ ngữ Nôm khác nhau:

Theo tiếng Bồ: Graça phiên âm thành Ga-ra-sa

Theo tiếng Tây Ban Nha: Gracia phiên âm thành Ga-ra-thi-a

Hiện nay có ba bộ Truyện các Thánh Công Giáo viết bằng chữ Nôm, theo cố linh mục Nguyễn Hưng thì:

Lm. J. Maiorica viết tên các thánh trong Các Thánh Truyện (1646) vào thế kỷ 17 bằng tiếng Bồ.

Giám mục Marti Gia, OP, người Tây Ban Nha, viết Sách Thánh năm 1848, thế kỷ 19, theo cách phát âm Tây Ban Nha.

Lm. J. M Bigollet Kính, MEP, dùng Latinh viết Sách Truyện các Thánh năm 1905-1906

Ngoài ba thứ tiếng Bồ, Tây Ban Nha, Latinh, còn có tiếng Tàu, chữ Nho, tiếng Pháp, cũng được dùng viết nhân danh, địa danh bằng chữ Nôm Công Giáo.

Kết luận

Việc viết tên tiếng nước ngoài bằng chữ Nôm rất phức tạp. Cả việc viết Tên Thánh bằng chữ quốc ngữ cũng phức tạp như vậy. Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam cho tới nay vẫn chưa có quy định chung, nghiã là ai muốn phiên âm như thế nào cũng được, viết thành chữ quốc ngữ abc như thế nào cũng chấp nhận.


Nguồn: FB Phan Dinh

Sách "Dũng Lý Hộ Thần" hay Meditaçao da Alma

 




Sách "Dũng Lý Hộ Thần" hay Meditaçao da Alma 
của Thừa sai Girolamo Maiorica trong Tủ sách Thầy cả Bỉnh.

Hiện tôi vừa xem qua thủ bản borg.tonch.34 thì phát hiện một phần lớn sách bị kẹp giữa những kinh Mân Côi và kinh cầu Đức Chúa Giêsu, là bản chữ Nôm của sách "Dũng Lý Hộ Thần" (勇理𧦈神: Những lý lẽ mạnh để bảo vệ thần thánh) hay còn có tên là Meditaçao da Alma theo tựa sách bản Quốc Ngữ.

Ở đầu bản Quốc ngữ của cuốn này (borg.tonch.30) có tựa tiếng Bồ Đào Nha: "Trinta e hum razões fortissimo para ajudar da alma, e cada dia meditacao huma rasao, este livro do Presbítero Jerônimo Maiorica jafer da Lingoa Tunkinesa antiga" (Ba mươi lý lẽ mạnh mẽ để được ích cho các linh hồn - mỗi một lẽ phải chiêm niệm trong một ngày - từ sách của Thầy cả Girolamo Maiorica dịch từ tiếng Đàng Ngoài cổ)

Đây là cuốn sách duy nhất trong tủ sách Cụ Bỉnh có cả bản chữ Nôm và chữ Quốc Ngữ để đối chiếu văn tự. Theo Cụ Bỉnh thì sách này do Thầy cả Girolamo Maiorica của Dòng Tên soạn và Cụ chép lại. Nhưng khi đọc danh mục các sách của Cụ Maiorica soạn thì tôi chưa thấy tên sách này, liệu có lẽ cuốn này đã bị thất lạc nên không nằm trong danh mục của Thư viện Quốc gia Pháp?

Kinh Tin Kính hay Tín điều các Thánh Tông đồ


Kinh Tin Kính hay Tín điều các Thánh Tông đồ
(từ "Sách kinh Thầy cả Bỉnh" - Borg.tonch.18 trang 18v-18r)
--------------------
碎信敬姚吒咍論丕。孕𢧚𡗶坦。碎信敬沒昆姚吒。支秋基移吹蘇。主眾碎。碎信固法丕𠫾蘇山蘇。聖瑪𠫾亞召胎。麻生𦝉童貞。碎信所召難。蒸時官。丰尸烏丕羅蘇。棟釘閣抅椊。折麻卞垃。碎信所𠖈地獄。㝵次𠀧。罷中几折吏𤯩。碎信所蓮𡗶。御边右姚吒咍論丕。碎信所㝵婁。罷𡗶吏𠖈。判察几𤯩喡几折。碎信丕𠫾蘇山蘇。碎信固山些。依計移加。𤠄蘇離𤠄。各聖共通公。碎信蒸赦罪。碎信蒸類𠊛吏𤯩。碎信恒𤯩丕。亞綿。
Tôi tin kính Deu Cha hay trọn vậy. dựng nên Trời Đất. Tôi tin kính một Con Deu Cha. Giê-su Khi-ri-xi-tô. Chúa chúng tôi. Tôi tin có phép Phi-ri-tô San-tô. thánh Ma-ri-a chịu thai. mà sinh đẻ đồng trinh. Tôi tin thửa chịu nạn. chưng thì quan. Phong-thi-ô Phi-la-tô. đóng đinh gác Câu-rút. chết mà bèn lấp. Tôi tin thửa xuống Địa ngục. Ngày thứ ba. Bởi trong kẻ chết lại sống. Tôi tin thửa lên Trời. ngự bên hữu Deu Cha hay trọn vậy. Tôi tin thửa ngày sau. bởi Trời lại xuống. phán xét kẻ sống và kẻ chết. Tôi tin Phi-ri-tô San-tô. Tôi tin có San-ta. Y-ghê-rê-gia. Ca-tô-li-ca. các thánh cùng thông công. Tôi tin chưng tha tội. Tôi tin chưng loài người lại sống. Tôi tin hằng sống vậy. A-men.
--------------------
- Trong bản kinh trên có chữ "thửa" hay "sở" 所 là đại từ nhân xưng ngôi thứ ba trong Hán văn, ám chỉ người ngoài cuộc - ở đây đều chỉ Đức Chúa Giêsu.
- Tính từ "hay trọn" là biết hết mọi sự
- Động từ "lấp" cũng như "chôn"
- San-ta. Y-ghê-rê-gia. Ca-tô-li-ca là Santa Igreja Católica trong tiếng Bồ Đào Nha, là Hội Thánh Công Giáo.
Tóm lại bản kinh này so với kinh Tin Kính của Dòng Đaminh in trong cuốn "Bản Kinh Tụng Đọc Toàn Niên" là giống hệt nhau, chỉ khác một điểm nhỏ là Dòng Đaminh dùng chữ Y-ghê-rê-xa (từ tiếng TBN là Iglesia) còn Dòng Tên dùng chữ Y-ghê-rê-gia (từ tiếng BĐN là Igreja).


Kinh Lạy Cha và Kính Mừng (từ "Sách kinh Thầy cả Bỉnh")


Thầy cả Bỉnh dạy bổn đạo đọc kinh Lạy Cha và Kính Mừng 
(từ "Sách kinh Thầy cả Bỉnh" - Borg.tonch.18 trang 17v-18r)
--------------------
經天主。共經亞蟡。
Kinh Thiên Chúa. cùng kinh A-ve.
眾碎𥛉恩天地真主。於𨕭𡗶羅吒眾碎。眾碎愿。名吒奇創。國吒治旦。𠳐意吒𠁑坦。平𨕭𡗶丕。眾碎吀吒。𣈙朱眾碎。恒㝵用堵。麻赦女眾碎。平眾碎拱赦。几固女眾碎丕。吀渚底眾碎。沙蒸感𠴗。卞助眾碎。蒸事与。亞綿。
Chúng tôi lạy ơn Thiên Địa Chân Chúa. ở trên Trời là Cha chúng tôi. Chúng tôi nguyện. danh Cha cả sáng. quốc Cha trị đến. vâng ý Cha dưới đất. bằng trên Trời vậy. Chúng tôi xin Cha. rầy cho chúng tôi. hằng ngày dùng đủ. mà tha nợ chúng tôi. bằng chúng tôi cũng tha. kẻ có nợ chúng tôi vậy. xin chớ để chúng tôi. sa chưng cám dỗ. bèn chữa chúng tôi. chưng sự dữ. A-men.
亞蟡瑪𠫾亞。苔𤠄囉沙。主姚於共妑。女中妑固福邏。妑胎子支秋。歉福邏。山些瑪𠫾亞。德媄主姚。求朱眾碎。几固罪欺𠉞。及臣等死候。亞綿。
A-ve Ma-ri-a. đầy Ga-ra-sa. Chúa Deu ở cùng bà. nữ trung bà có phúc lạ. bà thai tử Giê-su. gồm phúc lạ. San-ta Ma-ri-a. Đức Mẹ Chúa Deu. cầu cho chúng tôi. kẻ có tội khi nay. cập thần đẳng tử hầu. A-men.
--------------------
Về chuyện việc thay đổi âm Garasa trong kinh Kính Mừng thì tôi đã có đề cập là lý do khiến Cụ Bỉnh phải lên thuyền vào năm 1796 mà đi Bồ Đào Nha. Trong hai kinh trên còn rất nhiều chữ Hán và âm Bồ Đào Nha trà trộn vào, cho thấy sự Việt hoá kinh nguyện vào thời kỳ này là không cần thiết, và các bổn đạo đủ khả năng hiểu mà đọc trôi chảy. Hãy xem những chỗ "Thiên Địa Chân Chúa", "quốc", Garasa, Chúa Deu, Santa Maria và "cập thần đẳng tử hầu" là rõ.