Thêm một bản Kinh Lạy Cha ở thế kỷ 18






Tình cờ tôi tìm được một bản kinh Lạy Cha được phiên âm, kèm bản dịch tiếng Ý từ sách “Saggio practicco delle Lingue con prolegomeni e una raccolta di orazioni dominicali in più di trecento lingue e dialetti" (Thực hành ngôn ngữ khôn ngoan với phần giới thiệu và một bộ sưu tập các Kinh Lạy Cha trong hơn ba trăm ngôn ngữ và phương ngữ) in năm 1787 do Lorenzo Hervás (1735-1809) sưu tập.

Bản văn chép lại phiên âm Kinh Lạy bằng con chữ Latinh kèm theo phần giải nghĩa bằng tiếng Ý, do một cựu thừa sai dòng Tên ở Đàng Ngoài có tên là Onifori Villani ghi lại.

Hervas chú thích về Kinh Lạy Cha của Việt Nam như sau:
“In questa orazione si premette la parola riveriamo, perchè secondo il costume de’ Tonchinesi si dee fare un atto di riverenza a Dio avanti di parlare con lui. Ho fatta letteralissima la traduzione secondo i documenti datimi dall’ Exgesuita Sig. D. Onofrio Villani Missionario del Tonkino: e fra le parentesi ho introdotte alcune parole a maggior intelligenza del senso delle sentenze.”

Dịch sang tiếng Việt:
Trong lời nguyện này, người ta mở đầu bản kinh bằng chữ “Lạy” (dịch sát: “chúng con tôn kính”, riveriamo), bởi theo phong tục của người Đàng Ngoài (Tonchinesi), phải thực hiện một cử chỉ tôn kính đối với Thiên Chúa trước khi thưa chuyện với Ngài. Tôi đã thực hiện bản dịch một cách sát nghĩa nhất, dựa trên những tài liệu do cựu tu sĩ Dòng Tên, Don (Cha) Onofrio Villani, nhà truyền giáo tại Đàng Ngoài (Tonkino), cung cấp cho tôi; và trong các dấu ngoặc, tôi đã thêm vào một số từ ngữ để giúp hiểu rõ hơn ý nghĩa của các câu văn.

Đây là một chứng tích rất quý vì nó thuộc giai đoạn cực kỳ hiếm của lịch sử ngôn ngữ Công giáo Việt Nam, nằm trong giai đoạn chuyển tiếp sau thời các nhà truyền giáo Dòng Tên thế kỷ XVII-XVIII, nhưng trước khi các thừa sai Paris (MEP) thống trị hoàn toàn hoạt động truyền giáo thế kỷ XIX.

Soạn giả Lorenzo Hervás y Panduro không phải là một nhà truyền giáo ở Việt Nam; ông là một cựu tu sĩ Dòng Tên người Tây Ban Nha, nổi tiếng như một trong những nhà ngôn ngữ học so sánh đầu tiên của châu Âu. Sau khi Dòng Tên bị giải thể năm 1773, ông sống lưu vong tại Ý và thu thập tư liệu ngôn ngữ từ mạng lưới các cựu tu sĩ Dòng Tên trên khắp thế giới. Chính nhờ mạng lưới này mà ông có thể xuất bản bộ Idea dell’ Universo và các công trình về hơn 300 ngôn ngữ khác nhau.

Năm 1773, Giáo hoàng Clement XIV ban hành sắc chỉ Dominus ac Redemptor giải thể Dòng Tên. Sau biến cố này các tu sĩ Dòng Tên đang hoạt động tại Việt Nam bị buộc phải chuyển sang địa vị linh mục triều hoặc gia nhập hội dòng khác. Tuy Dòng bị giải thể về pháp lý, nhiều cựu tu sĩ vẫn tiếp tục phục vụ tại các giáo đoàn cũ. Vì trong các sách xuất bản cuối thế kỷ XVIII thường xuất hiện cách gọi ex gesuita (cựu tu sĩ Dòng Tên).

Điều này cho thấy vào năm 1787, Onofrio Villani không còn là tu sĩ Dòng Tên nữa, nhưng soạn giả Lorenzo Hervas vẫn xem ông là nguồn tư liệu có thẩm quyền về ngôn ngữ và tập tục Tonkin.

Theo ghi chép của cha Philiphê Bình và tài liệu đương thời, cha Onifrio Villani (có chỗ chép là Vigliani), có tên Việt là Cố Hậu, là một trong những nhà truyền giáo Dòng Tên cuối cùng đến Việt Nam. Ông sinh năm 1715 ở Ý, đến Đàng Ngoài (Bắc Hà) 2 lần, lần đầu ở Nghệ An từ năm 1755 đến năm 1760, sau đó ông về Roma xin gửi các cha Dòng Tên đến Việt Nam. Năm 1765, cha Villani Hậu trở lại Đàng Ngoài làm bề trên các cộng đoàn Dòng Tên và phục vụ các giáo đoàn ở Sơn Nam hạ (thuộc vùng Nam Định ngày nay). Năm 1779, cố Hậu rời Đàng Ngoài sang Quảng Đông để về Roma. Cùng đi với cha có hai thầy Quyền và thầy Thiều (hai thầy này có lẽ là hai người đầu tiên học thần học và chịu chức linh mục ở Roma). Vì dòng Tên đã bị giải thể, cha xin nhập dòng Phanxicô Capuchino ở Ý.

Vì sống ở Đàng Ngoài gần 20 năm, cố Hậu được coi như là người thành thạo văn hóa và ngôn ngữ Đàng Ngoài. Soạn giả đã ghi lại nhận xét của ông về phong tục người Việt:
“theo phong tục người Tonkin, phải kính lạy Thiên Chúa trước khi thưa chuyện với Ngài.”

Theo đúng cách trình bày của Hervás thì Kinh Lạy Cha này đọc như sau (ảnh 1)

Tiếng Việt (phiên âm) : Tiếng Ý của Hervas
Chúng-toi : noi-io [cioè nostro]
lai Thien dia : riveriamo (di) cielo, terra
chen Chua : vero Signore
o tren bloi : stante sopra cielo
la Cha chung-toi : e Padre nostro
Chúng-toi nguyen : noi preghiamo
deant Cha ca : nome [del] Padre universale
sang : risplenda
Cuoc cha : regno [che il] Padre
tri, den : governa, arrivi
Bung I : ubbidiamo volontà
cha duoi : (del) padre già
dat, bang : (in) terra, come
tren bloi bai : sopra (in) cielo così
Chúng-toi xin : noi dimandiamo
cha rai : (al) padre oggi
cho chung-toi : dar ci
hang ngay : il pane quotidiano
dun : usare (cioè il cibo, che si usa)
du : bastante (cioè abbastanza)
E tha : e perdonare
no chung-toi : debiti nostri
bang chung-toi : come noi
cun tha : parimente perdoniamo
ke co no : quelli hanno debiti
Chúng-toi xin : noi dimandiamo
cho dee : non permettere
chung-toi sa : noi cadere
chung cam-do : in tentazione
Ben chua : ma libera
chung-toi : noi
chung su du : da cose cattive

Phục nguyên sang tiếng Việt hiện đại
Chúng tôi lạy Thiên Địa Chân Chúa ở trên trời là Cha chúng tôi.
Chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng.
Cuốc (Quốc) Cha trị đến.
Vâng ý Cha dưới đất bằng trên trời vậy.
Chúng tôi xin Cha rày cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ.
Và (?) tha nợ chúng tôi, bằng chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi.
Xin chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ.
Bèn chữa chúng tôi cho khỏi sự dữ.
—-

So sánh với các bản kinh Lạy Cha khác:
Nếu so sánh bản này với bản Nôm của Đức thầy Hilario da Costa Hy trong sách Các phép thế kỷ XVIII, bản của cha Bỉnh ghi lại bằng chữ Nôm cuối thế kỷ XVIII, cũng như Thánh Giáo Kinh Nguyện của địa phận Đông Đàng Ngoài thế kỷ XVIII, thì rõ ràng là Kinh Lạy Cha này khá trung thành với bản Kinh Lạy Cha mà cha Majorica đã phổ biến từ thế kỷ XVII (ảnh 2)

A) Kinh Lạy Cha chữ Nôm/ Quốc ngữ
trong Sách Các Phép, dịch từ Latinh (ảnh 3)
Cha chúng tôi là kẻ ở trên trời (mlời) xin cho tên (tin) người nên thánh nước người cai trị đến, vưng ý (êý) ở dưới đất bằng trên trời (mlời) vậy hãy ban cho chúng tôi hôm nay của ăn chúng tôi quen dùng mọi ngày cùng (cũ) tha cho chúng tôi những nợ (nhớ/nữa/nứa) chúng tôi bằng chúng tôi cũng tha kẻ có nợ (nữa) chúng tôi vậy xin (cũ) chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ (deồ) bèn chữa chúng tôi [khỏi] sự dữ.
Chú ý đây là bản dịch sát nghĩa từ tiếng Latinh để các cha hiểu ý nghĩa các từ ngữ khi làm lễ chứ không phải bản kinh đọc hàng ngày.

B ) Kinh Lạy Cha của thầy cả Bỉnh (ảnh 4)
眾碎𥛉恩天地真主。於𨕭𡗶羅吒眾碎。眾碎愿。名吒奇創。國吒治旦。𠳐意吒𠁑坦。平𨕭𡗶丕。眾碎吀吒。𣈙朱眾碎。恒㝵用堵。麻赦女眾碎。平眾碎拱赦。几固女眾碎丕。吀渚底眾碎。沙蒸感𠴗。卞助眾碎。蒸事与。亞綿。

Phiên âm theo tiếng Việt thế kỷ XVIII
Chúng tôi lạy ơn Thiên Địa Chân Chúa ở trên blời là Cha chúng tôi. Chúng tôi nguyện. danh Cha cả sáng. cuốc Cha trị đến. vơng ý Cha dưới đất. bàng trên blời vậy. Chúng tôi xin Cha. rằy cho chúng tôi. hàng ngày dùng đủ. mà tha nợ chúng tôi. bàng chúng tôi cũng tha. kẻ có nợ chúng tôi vậy. xin chớ để chúng tôi. sa chưng cám dỗ. bèn chữa chúng tôi. chưng sự dữ. A-men.

C) Kinh Lạy Cha in trong Thánh Giáo Kinh Nguyện cũng tương tự như vậy (ảnh 5)

D) Kinh Lạy Cha phiên âm bằng mẫu tự Latinh của cố Villani Hậu cũng được in lại trong các sưu tập khác, thí dụ như trong "The Lord's Prayer in 250 Languages and 180 Forms of Writing" Chủ biên Pietro Marietti, Wendell Jordan S. Krieg - NXB
Brain Books (1870) (ảnh 6)

E) Đến năm 1924, Kinh Lạy Cha được cập nhật câu đầu (ảnh 7), nhưng vẫn giữ phần lớn từ vựng cũ cho đến lần sửa đổi cuối cùng khi cải tổ phụng vụ vào năm 1970.

Lạy Cha chúng tôi ở trên trời.
Chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, vâng ý Cha dưới đất bằng trên trời vậy.
Chúng tôi xin Cha rày cho chúng tôi hằng ngày dùng đủ, và tha nợ chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi, lại chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ, bèn chữa chúng tôi cho khỏi sự dữ. (Bản 1924)

F) Bản phổ thông ngày nay (Sách lễ Roma 1970).
Lạy Cha chúng con ở trên trời,
chúng con nguyện danh Cha cả sáng,
nước Cha trị đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày
và tha nợ chúng con
như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.
Amen.
——

Nhận xét
Trong bản kinh của cố Villani Hậu, có mấy từ cổ rất đáng chú ý
- bloi = trời
- bung = vâng
- rai = rầy (giờ đây)
- e = có lẽ ở đây soạn giả ghi lầm thành chữ “e” (và) trong tiếng Ý. Trong tiếng Việt cổ cũng có trợ từ e (như trong cụm từ "e rằng") là mang ý nghĩa gốc là ngại, sợ, dè chừng, lo lắng hoặc cẩn trọng. Nhưng trong mạch văn này, khó có dùng như vậy.
- ben chua = bèn chữa (giải cứu)
- chung = chưng là một trợ từ hay dùng trong trong các văn bản xưa, không rõ nghĩa. Chữ Nôm giả tá viết là 蒸 (chưng: nấu lâu)
- cuoc cha tri den = quốc Cha trị đến (bây giờ là Nước Cha trị đến)

Giá trị của bản kinh này không nằm ở bản dịch tiếng Ý của Hervás, mà nằm ở chỗ nó là một chứng tích ngôn ngữ học của tiếng Việt Công giáo, được truyền từ các nhà truyền giáo Dòng Tên ở Đàng Ngoài từ thế kỷ XVII sang mạng lưới học giả lưu vong của Dòng Tên tại Ý sau năm 1773.

Nếu đào sâu thêm về cố Villani Hậu rất có thể chúng ta sẽ tìm ra được một mắt xích còn khá ít được nghiên cứu giữa truyền thống Dòng Tên Việt Nam thế kỷ XVII (de Rhodes, Maiorica) và công trình ngôn ngữ học so sánh của Hervás cuối thế kỷ XVIII.

Có thể cố Villani Hậu có viết tài liệu gì đó (bằng quốc ngữ) mà nay đã thất lạc. Nếu có thể tìm được các tài liệu ông đem về Ý thì sẽ là một khám phá thú vị. Đây là hướng nghiên cứu rất đáng theo đuổi.



Ứng dụng học chữ Nôm: Nôm Flow

 


Ứng dụng Nôm Flow (nomflow.app) của Albert Errickson, một công cụ học chữ Nôm sử dụng phương pháp lặp lại ngắt quãng (spaced repetition), giúp người học tiếp cận các tác phẩm Nôm kinh điển trong bối cảnh từng dòng, đồng thời hiển thị thứ tự nét cho mỗi chữ.


Những Trang Kinh từ Lisboa Gửi gắm về An Nam




Buổi sáng sớm ngày 7 tháng 1 năm 1796, bốn bổn đạo Công giáo người An Nam đang long đong vô định giữa biển cả ngoài khơi thuộc địa Macao của Bồ Đào Nha. Họ vừa thấp thỏm chờ đợi bóng dáng những thuyền buôn phương Tây ghé ngang qua Macao để quá giang, vừa lo sợ lính hầu của Giám mục Macao sẽ bắt họ mà bỏ ngục hoặc trục xuất về nước. May mắn thay, từ đằng xa có sáu chiếc thuyền buôn Anh kéo đến một trật. Bốn người An Nam này chèo thuyền lại gần mà hỏi thuyền trưởng từng chiếc để xin đi theo phụ giúp không công. Với bộ dạng rách rưới vì đã ngủ ngoài biển nhiều ngày liền, bốn người này đều không vừa mắt 5 thuyền trưởng liên tiếp nên phải chèo đến chiếc cuối cùng mà xin. Tưởng đâu mình cũng sẽ bị từ chối như trước, họ vui mừng khôn xiết khi được thuyền trưởng chiếc tàu Santa Anna nhận chở sang Bồ Đào Nha. Cứ như vậy, họ đã thoát khỏi vòng vây của Giám mục Macao trong phút chót và lên đường vượt biển 6 tháng trời để đến Lisboa, nhưng họ đâu biết được chuyến hải trình này đánh dấu lần cuối cùng họ được nhìn thấy quê hương An Nam, gia đình thân thuộc cùng anh em bạn hữu.

Đó là câu chuyện của Thầy cả Philiphê do Rosario Nguyễn Văn Bỉnh (1759-1833) và ba bạn đồng hành là Giuse Trung, Tôma Nhân và Phanxicô Ngần - những bổn đạo Công giáo thuộc về truyền thống Dòng Tên cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Chuyến đi sứ của họ vào năm 1796 gắn liền với nạn ly giáo Garasa tai tiếng đã làm rúng động Giáo hội Công giáo Việt Nam ở Đàng Ngoài vào cuối thế kỷ 18. Với mục đích cầu xin Nữ hoàng Maria I và Thái tử João VI của triều đình Đế quốc Bồ Đào Nha đặt một Giám mục người Bồ để đại diện cho nỗi khổ tâm của các bổn đạo Dòng Tên, Thầy cả Bỉnh và các bạn vượt biển trong niềm hi vọng tràn trề, chỉ để nhận lại những đắng cay vào cuối năm 1807 khi Hoàng tộc Bồ Đào Nha bỏ kinh đô Lisboa mà tháo chạy sang Brazil để lánh cuộc xâm lăng của Napoleon Bonaparte - qua đó chấm dứt mọi hy vọng tìm một Giám mục Bồ Đào Nha cho Đàng Ngoài của sứ đoàn.

Khi mục tiêu xin Giám mục chẳng thể hoàn thành và Công sứ Tòa Thánh Vatican cũng ngăn không cho sứ đoàn về nước, Thầy cả Bỉnh đã dành 26 năm cuối đời để viết hơn 20 đầu sách bằng ba thứ tiếng để giãi bày những tâm sự của mình nơi xứ người. Ba trong số những đầu sách đó là các thủ bản Borg.tonch.17, Borg.tonch.18 và Borg.tonch.34 đặc biệt được chép tay bằng chữ Nôm và lưu giữ trong Bộ sưu tập của Đức Hồng y Stefano Borgia tại Thư viện Vatican.

Trong đa phần các sách của mình, Thầy cả Bỉnh đều chép và dịch sang tiếng Việt với chữ Quốc ngữ vì đó là di sản ngôn ngữ mà Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) của Dòng Tên đã để lại cho bổn đạo An Nam. Việc ba thủ bản trên được chép lại bằng chữ Nôm cho thấy tầm quan trọng của chúng đối với Thầy cả Bỉnh, vì các bổn đạo Công giáo An Nam thời bấy giờ chỉ quen đọc các sách chữ Hán và chữ Nôm mà không biết chữ Quốc ngữ. Theo Thầy cả Bỉnh, chữ Quốc ngữ chỉ là thứ chữ các Thừa sai dùng để học tiếng Việt nhanh chóng, còn chữ Nôm mới là “chữ nước ta”. Việc Thầy cả Bỉnh chỉ chép ba sách chữ Nôm cho thấy ông ưu tiên đặt chúng lên làm món quà to lớn nhất dành cho anh em bổn đạo ở Đàng Ngoài, trong trường hợp bản thân không còn sống sót đến ngày trở về quê hương. Vậy ba món quà dài gần 1000 trang chữ Nôm này mà Thầy cả Bỉnh muốn gửi về quê nhà có nội dung ra sao

Thủ bản Borg.tonch.18 hay “Sách kinh Thầy cả Bỉnh” hoặc “Sách kinh tuần cửu nhật” được hoàn thành năm 1815 và là một tập hợp những kinh nguyện mà bổn đạo Dòng Tên thường đọc hằng ngày, trong thánh lễ Chúa Nhật và trong các dịp lễ trọng thể khác; cùng những bài ngắm chín ngày trước lễ kính một số thánh nam nữ và dịp lễ trọng mà Thầy cả Bỉnh đặc biệt lưu tâm và dành tâm sức mà dịch từ tiếng Bồ Đào Nha. Được nhắc đến đầu tiên trong thủ bản này là bà thánh Anna, người theo truyền thống của Giáo hội Công giáo là bà ngoại của Đức Chúa Giêsu. Thầy cả Bỉnh kính mến thánh nữ này vì con tàu chở ông từ Macao sang Lisboa mang tên của bà, việc được ông coi như một phép lạ lớn. Kế đến là ông thánh Giuse, vì người là thánh Quan thầy bảo trợ cho nước An Nam kể từ khi Cha Đắc Lộ đi truyền đạo ở Đàng Ngoài hơn 100 năm trước khi Thầy cả Bỉnh ra đời. Tiếp nữa là một phần kinh cửu nhật nhỏ để kính lễ Giáng sinh của Đức Chúa Giêsu trong hang đá Bêlem. Ngoài ra cũng có kinh cửu nhật dành cho lễ kính Bảy Sự Thương Khó của Đức Bà Maria, dù không phải là một lễ trọng trong đạo Công giáo nhưng được Thầy cả Bỉnh hết mực sùng kính. Gần cuối sách là danh mục gần 100 ơn xá tội dành cho các bổn đạo khi họ đi thăm viếng những nhà thờ ở Roma cùng Đất Thánh vào các dịp lễ nhất định trong đạo. Thầy cả Bỉnh cũng viết một bản giáo huấn dài để nhắc nhở bổn đạo Đàng Ngoài về việc giáo dục cho con cái cùng sắp đặt cưới hỏi. Không chỉ giới hạn ở chữ Nôm, cuốn sách này cũng có một số trang cuối gồm các kinh nguyện tiếng Latinh dành cho các linh mục đọc vào mỗi ngày trong tuần cửu nhật kính các thánh. Cuốn sách kết thúc bằng một kinh cầu ông thánh Phanxicô Xaviê, là vị thánh yêu thích của Thầy cả Bỉnh, cùng những di nguyện cuối cùng của ông muốn gửi gắm các sách mình viết về cho bổn đạo Đàng Ngoài. Cuối sách cũng có một phụ lục về Đền Thánh Giêrusalem và các phép lạ khác vào thời bách hại đạo ở Đế quốc La Mã.

Thủ bản Borg.tonch.17 hay “Sách khuyên xem lễ Misa và các truyện thánh” được hoàn thành năm 1818 và là tiếp nối của thủ bản 18. Theo Thầy cả Bỉnh thì khi đóng sách thành quyển vượt số trang nên ông phải tách khoảng 300 trang còn lại trong sách kinh thành một cuốn riêng nên ta mới có thủ bản 17 này. Tuy mang nhan đề là khuyên bảo bổn đạo phải đi tham dự thánh lễ thường xuyên, thủ bản này lại được cấu thành từ nhiều truyện thánh và truyện phép lạ được trích từ trong Kinh Thánh hoặc ngoài đời. Cấu trúc của sách có ba phần chính. Phần thứ nhất là phần giải thích sự cao trọng của các nghi thức trong Thánh Lễ, nhưng lại có nhiều truyện phép lạ liên quan đến Thánh Lễ hơn để khuyên răn bổn đạo. Phần thứ hai là những lời giải thích vì sao những người đi dự Thánh Lễ lại được đầy ơn phúc cả xác và hồn, nhưng lại được cấu thành từ nhiều mảng truyện: các phép lạ trong Cựu Ước, trong hạnh các thánh, trong Tân Ước, trong thiên nhiên, dân gian và trong lịch sử truyền giáo của Dòng Tên ở Trung Hoa và Đàng Ngoài. Sự đa dạng của mục này cho thấy, lối viết truyện đặc trưng của Thầy cả Bỉnh là lối viết tản mạn với nhiều chủ đề khác nhau trong cùng một phần. Sau hết là phần giải thích những cái hại cho bổn đạo khi không đi dự Thánh Lễ. Phần này lại bao gồm nhiều truyện phép lạ,những bổn đạo phải chịu phạt vì thiếu tôn trọng Thánh Lễ. Hai thủ bản 17 và 18 cùng nhau tạo thành một cuốn sách kinh nguyện đặc trưng cho văn phong của Thầy cả Bỉnh, không chỉ đơn thuần là kinh nguyện rập khuôn mà còn chứa đầy những truyện kinh điển về sự đạo để giúp bổn đạo dễ học hỏi hơn.

Thủ bản Borg.tonch.34 hay “Sách Dũng Lý Hộ Thần” thật ra là một tác phẩm đã thất lạc từ lâu của Thừa sai Girolamo Maiorica (1591-1656), người được coi là ông tổ của Công giáo Hán Nôm. Thừa sai Maiorica đã để lại khoảng 15 trước tác bằng chữ Hán và chữ Nôm, hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Pháp, thế nhưng “Dũng Lý Hộ Thần” hay Meditação da Alma (“Chiêm niệm cho Linh hồn”) lại không nằm trong số đó. May mắn thay Thầy cả Bỉnh đã chép lại nguyên văn cuốn sách này thành hai bản chữ Quốc ngữ (Borg.tonch.30) và chữ Nôm (Borg.tonch.34) để lưu giữ dấu vết cuối cùng của tác phẩm quý hiếm trên. Phần đầu của thủ bản 34 là tập hợp cách ngắm tràng hạt Mân Côi cùng các kinh nguyện đơn lẻ, có lẽ được trích nguyên văn từ thủ bản 18. Phần cốt lõi của thủ bản này chính là khoảng 80 trang giấy ở giữa, là toàn bộ sách Dũng Lý Hộ Thần. Cuốn sách này được mô phỏng theo tác phẩm chiêm niệm kinh điển “Linh Thao” (Spiritual Exercises) của thánh Inhaxiô de Loyola, là đấng sáng lập Dòng Tên. Tác giả của cuốn sách này, Thừa sai Maiorica, khuyến khích bổn đạo phải ngắm mỗi một sự chiêm niệm trong một ngày, để tạo thành 31 điều ngắm trong một tháng tròn. Nội dung của các ngắm là những giáo lý căn bản trong đạo Công giáo về thể trạng của linh hồn loài người sau khi qua đời, để củng cố Đức Tin của các bổn đạo lâu dài. Phần cuối của sách là tập hợp những cách ngắm tràng hạt Bảy Sự Thương Khó của Đức Bà Maria cùng Chín Sự Thương Khó của Đức Chúa Giêsu, do thánh Giáo hoàng Grêgôriô trước tác.

Trong tủ sách của Thầy cả Bỉnh, ba thủ bản chữ Nôm trên chiếm một vị trí quan trọng bậc nhất vì chúng là ưu tiên hàng đầu của ông, với tâm niệm là nếu có cơ hội thì gửi gắm sách kinh về cho bổn đạo Dòng Tên ở Đàng Ngoài. Do đó, ông mới bỏ công dịch từng truyện từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Việt rồi lại chép thành chữ Nôm để bổn đạo có thể đọc được. Những sách viết bằng chữ Quốc ngữ thì ông có ý căn dặn người nhà Dòng Tên đọc, rồi sao lại thành chữ Nôm luôn một thể để bổn đạo có thể hiểu. Với việc ba thủ bản này được số hóa trên nền tảng Digitizing Việt Nam, với phần gõ chữ Nôm và chuyển tự sang chữ Quốc ngữ đầy đủ, thì di nguyện cuối cùng của Thầy cả Bỉnh, là đem các sách của ông về lại vòng tay quê hương để hậu thế có thể tìm đọc, đã được hoàn tất.

Mời bạn đọc cùng thưởng thức ba thủ bản trên trong bộ sưu tập “Thủ bản Kinh nguyện Công giáo Hán Nôm của Philipphê Bỉnh” trên Digitizing Việt Nam:


Borg. Tonch. 18: Sách kinh Thầy cả Bỉnh.

 



Borg. Tonch. 18: Sách kinh Thầy cả Bỉnh, còn được gọi là Sách Tuần Cửu Nhật, là một thủ bản Hán–Nôm (19+), gồm 520 (+18) trang. Nội dung bao gồm: các kinh nguyện thường ngày và theo các mùa phụng vụ (tr. 1–94); tuần cửu nhật kính Thánh Anna cùng ghi chép về các phép lạ của ngài (tr. 95–222); tuần cửu nhật kính Thánh Giuse (tr. 223–326); tuần cửu nhật mừng lễ Giáng Sinh (tờ 327); các thực hành đạo đức và tuần cửu nhật kính Bảy Sự Thương Khó của Đức Mẹ Maria (tờ 327); các ân xá dành cho việc viếng các nhà thờ tại Roma (tr. 467); lời huấn dụ gửi các tín hữu Đàng Trong/An Nam về đời sống gia đình (tờ 477); bản kinh cầu Danh Thánh Chúa Giêsu bằng tiếng Latinh, cùng các kinh Latinh do linh mục đọc trong các tuần cửu nhật nói trên (tờ 519); kinh cầu Thánh Phanxicô Xaviê bằng Hán–Nôm và những lời nhắn nhủ cuối cùng gửi các tín hữu An Nam (tờ 520); cùng các ghi chép tạp về Đền thờ Giêrusalem và những phép lạ khác.

Vài nhận xét về Tên các thánh viết bằng chữ Nôm trong Kinh Cầu Các Thánh

 

Vài nhận xét về Tên các thánh viết bằng chữ Nôm 

trong Kinh Cầu Các Thánh, (ấn bản chữ Nôm 1925).


1. Tên các thánh đều là Tên gọi hàng ngày, chứ không phải là Họ. Ở đây chúng ta không đào sâu đề tài „Việc xưng hô, chào kính của người Việt“. Việc xưng hô, chào kính của người Việt rất khác biệt so với người Âu Mỹ cũng như rất khác biệt so với người Tầu, nhưng lại gần gụi với truyền thống Công Giáo.

Tiếp nối truyền thống của Chúa Giêsu và các thánh Tông Đồ, hiện nay trên toàn thế giới, các vị Giám Mục Công Giáo đều dùng Tên Gọi trong khi giao tiếp.

Trước kia nhiều Giám Mục, thừa sai, khi rao giảng tin mừng tại Việt Nam, các vị giám mục ấy tự đặt cho mình một Tên Việt Nam, với cái tên Việt Nam ấy giáo dân dễ nhớ, dễ gọi. Về phần minh, giáo dân Việt Nam cũng bắt chước các vị tu sĩ, đặt cho mình một Tên Tây, và gọi là Tên Thánh Quan Thầy. Thánh Quan Thầy là vị thánh bổn mạng của mình, là tấm gương sáng cho mình học hỏi và bắt chước trong suốt cuộc đời.

Thời giáo hội sơ khai thế kỷ 17, có giáo dân VN chỉ dùng tên thánh quan thầy, làm tên gọi hằng ngày, bỏ cả tên gọi của mình, khiến cho ngày nay chúng ta không thể truy cứu tiểu sử rõ ràng. Ví dụ Thánh An Rê Phú Yên.

Ngày nay nhiều vị Giám Mục Việt Nam cũng đang đi vào vết xe đó, khi tự gọi hoặc được gọi trống là Đức Tổng Giuse, có khi còn vắn tắt hơn, gọi là Đức Tổng, Đức Cha Giu Se, Đức Cha Phao Lô... trong các buổi lễ, trong các bài viết trên báo chí. Việc xưng hô cắt xén đó còn nguy hiểm vì nó cắt bỏ phần cốt lõi, phần quan trọng nhất: Giám Mục. Giám Mục là chức vị cao trọng, là chức thánh. Chỉ nhớ đến phần Đức Tổng, có vẻ tâng bốc, mà xem nhẹ sứ vụ Giám Mục chăng?

Hơn thế nữa, sau năm 1975, tại Việt Nam có thêm cách gọi „xếch mé“: Giê Su Ơi, Giê Su, Đức Giê Su... (Xin xem các bản dịch Thánh Kinh gần đây). Tên gọi Giê Su là một tên gọi rất thông thường, rất phổ biến trong xã hội Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha dành cho các trẻ nam, phái nam. Nhưng người Công Giáo chỉ tôn thờ ĐỨC CHÚA GIÊ SU vì Ngài là đấng cứu thế, cứu độ trần gian.

Một bài học rút ra từ Sách Nôm Công Giáo là chúng ta chỉ gặp nhóm chữ ĐỨC CHÚA GIÊ SU. Nhóm chữ ĐỨC CHÚA GIÊ SU là một cách xưng hô đầy đủ ý nghĩa với lòng kính trọng, tôn thờ.

2. Tên các thánh bằng chữ Nôm có nhiều cách viết khác nhau, tùy theo ngôn ngữ của người nói, tùy theo giọng nói thay đổi theo địa phương, thay đổi theo thời đại : Đàng Trong, Đàng Ngoài.

Đức Chúa Giê Su

Cách viết 1: Chi 支 Thu 秋.

Cách viết 2: Chi 支 Chu 䇬.

Maria

Cách viết 1: Ma 瑪 Di 移 A 亞

Cách viết 2: Ma 瑪 Đi 𠫾 A 亞

Phan Xi Cô

Cách viết 1: Phan 潘 Xi 吹 Cô 姑.

Cách viết 2: Phan 潘 Chi 支 Cô 姑.

Phê Rô

Cách viết 1: Phê 批 Rô 嚕

Cách viết 2: Vê [為圭] Rô 嚕

Cách viết 3: Bá Đa Lộc

Phi Li Phê

Cách viết 1: Phi 丕 Li 離 Phê 批

Cách viết 2: Phi 丕 Lip/ Lạp 臘 Phê 批

3. Một đơn tự Nôm trong tên các thánh có thể đọc bằng nhiều âm khác nhau.

Á 亞 cũng đọc là A 亞 .

A 亞 Men 綿

Mát 沫 Thi 尸 Á 亞 .

A 亞 Na 那 Ta 些 Xi 吹 A 亞

Á 亞 Ga 𤠄 Ta 些

Lu 卢 có thể đọc là Lô, Lư

Lu 卢 Ca 

Lô [忄卢] Ren [糹蓮 ] Sô 芻

Si 吹 có thể đọc là Si, Suy, Xê, Xi

Phan 潘 Xi 吹 Cô 姑.

Xê 吹 Ba 𠀧 Ti 卑 Á 亞 Nô 奴.

Giê 支 Va 𢯷 Si 吹 Ô 烏.

Phô 鋪 Ta 些 Si 吹 Ô 烏 .

Gô 姑 có thể đọc là Cô 姑

Ghê 計 Gô 姑 Ri 移 Ô 烏.

Ni 尼 Cô 姑 La 羅 Ô 烏.

Cu 俱 có thể đọc là Câu, Gu

Âu 謳 Cu 俱 Ti 卑 Nô 奴.

4. Mẫu tự A hoặc O tận cùng trong tên các thánh có thể xác định phái tính, giống đực, giống cái.

Những tên với mẫu tự Ô tận cùng thường là tên phái nam, giống đực:

Đô 都 Mi 眉 Ni 尼 Cô 姑

Phan 潘 Xi 吹 Cô 姑 .

Những tên với mẫu tự A tận cùng thường là tên phái nữ, giống cái:

Á 亞 Ga 𤠄 Ta 些 .

Lu 卢 Xi 吹 A 亞 .

Thê 棲 Xi 吹 Ly 離 Á 亞 .

Ca  (Hán Nôm A Privat E 243) Ta 些 Ri 𠫾 Na 那.

Có lẽ các giáo đoàn đầu tiên đến truyền giáo tại Việt Nam thường dùng tiếng Bồ Đào Nha (hoặc Tây Ban Nha) nói với nhau hằng ngày cho dù họ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, cho nên họ cũng phát âm tên các thánh theo tiếng Bồ và cũng dựa theo cách phát âm ấy mà viết thành chữ Nôm. Các tên ấy còn tồn tại cho đến ngày nay.

Trong tiếng Bồ, chỉ có hai loại từ: giống đực và giống cái. Những danh từ chung, danh từ riêng tiếng Bồ với mẫu tự Ô tận cùng thường thuộc giống đực, hoặc là tên phái nam.

Những danh từ tiếng Bồ với mẫu tự A tận cùng thường thuộc giống cái, hoặc là tên phái nữ.- o carro : Cái xe - a porta : Cái cửa - a casa : Cái nhà

Tất nhiên cũng có ngoại lệ, ngoại lệ này mọi người phải học và nhớ thuộc lòng. Ví dụ o clima : khí hậu - o dia : ngày

5. Việc viết tên tiếng nước ngoài bằng chữ Nôm rất phức tạp. Việc phức tạp ấy có hai lý do:- Dùng tiếng quốc gia nào để ghi âm- Cách tách các tên riêng nước ngoài ra thành âm tiết

Việc dùng tiếng nước nào (La Tinh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Nho...) để ghi âm rất quan trọng, nhờ biết việc ấy chúng ta đọc sách Nôm Công Giáo đỡ vất vả hơn rất nhiều..

Cùng một từ ngữ Ân Sủng đọc theo tiếng Bồ hoặc đọc theo tiếng Tây Ban Nha mà viết thành nhóm từ ngữ Nôm khác nhau:

Theo tiếng Bồ: Graça phiên âm thành Ga-ra-sa

Theo tiếng Tây Ban Nha: Gracia phiên âm thành Ga-ra-thi-a

Hiện nay có ba bộ Truyện các Thánh Công Giáo viết bằng chữ Nôm, theo cố linh mục Nguyễn Hưng thì:

Lm. J. Maiorica viết tên các thánh trong Các Thánh Truyện (1646) vào thế kỷ 17 bằng tiếng Bồ.

Giám mục Marti Gia, OP, người Tây Ban Nha, viết Sách Thánh năm 1848, thế kỷ 19, theo cách phát âm Tây Ban Nha.

Lm. J. M Bigollet Kính, MEP, dùng Latinh viết Sách Truyện các Thánh năm 1905-1906

Ngoài ba thứ tiếng Bồ, Tây Ban Nha, Latinh, còn có tiếng Tàu, chữ Nho, tiếng Pháp, cũng được dùng viết nhân danh, địa danh bằng chữ Nôm Công Giáo.

Kết luận

Việc viết tên tiếng nước ngoài bằng chữ Nôm rất phức tạp. Cả việc viết Tên Thánh bằng chữ quốc ngữ cũng phức tạp như vậy. Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Việt Nam cho tới nay vẫn chưa có quy định chung, nghiã là ai muốn phiên âm như thế nào cũng được, viết thành chữ quốc ngữ abc như thế nào cũng chấp nhận.


Nguồn: FB Phan Dinh