Văn thề

Một lá thư tuyên thệ của các thầy cả ở Đàng Ngoài
gửi cho Bộ Truyền giáo
(Nguồn ảnh: Vatican Library, Collection Borg Tonch.)


Đức thánh Pha-pha In-nô-sen-si-ô thứ Mười Một (Innocent XI) cùng các Đức Thầy Ca-đi-na-lê (Hồng Y) coi sóc việc truyền đạo thánh Đức Chúa Blời cho khắp thế gian, dạy các Thầy các dòng thay thảy thề cùng phê tên mình mà gửi về hầu các Đức Thầy Ca-đi-na-lê.

Vì Đức thánh Pha-pha đã có trọn chức quyền coi sóc sự về phần linh hồn người ta ở khắp thế gian cùng trong việc ấy chẳng phải chịu lụy ai, và cho được sai đấng làm thầy đi giảng giải cùng truyền đạo thánh Đức Chúa Blời, nhất là trong nước Đại Minh, nước An Nam và Cao Miên, cùng Chiêm, hai là coi sóc cho những bổn đạo ở trong những nước ấy, cho đạo thánh Đức Chúa Blời một ngày một thịnh một rộng hơn chẳng phải đi xin cùng đấng nào có đạo hay là chẳng có đạo, mà có chức tước gì dầu đấng làm [?] cũng vậy, chẳng phải xin phép những đấng ấy cho được làm việc ấy, vậy chúng tôi là Gia-cô-bê Chiêu, tôi là An-tôn Quế, tôi 



là Phi-li-phê Trà, tôi là Si-mong Kiên, Tôi là Lê-ong Trông, tôi là Mát-ti-nho sẽ cứ phép Đức thánh Pha-pha đã truyền dạy mà chúng tôi sẽ làm việc Thầy Sa-sê-do-tê-sút Pha-rô-ki (Sacerdotes Parochiales= linh mục quản xứ) cho ngay thật thà, nếu mà ai ai lấy danh gì lẽ gì chức gì, mà hỏi chúng tôi, cùng [?] lòng liều cùng chúng tôi sự gì, về những nơi đã kể trước sự gì về phép đấng làm Bề trên coi sóc sự về phần linh hồn bổn đạo những nơi ấy, thì chúng tôi sẽ chẳng thưa, cùng chẳng lòng liều gì cùng kẻ ấy đâu, chúng tôi sẽ để việc ấy mặc thánh ý Đức thánh Pha-pha phán xét, mà chúng tôi sẽ làm việc về chúng tôi phải làm mà thôi, dầu giảng giải cho ai, dầu làm phép Sa-ca-ra-men-tô (Bí tích) gì, hay là việc khác về đấng làm Thầy phải làm, những nơi các Đức Thầy cả Vít-vồ Vi-gai-rô A-phô-sút-tô-li-cô (tiếng Bồ: Vigario Apostolico : Đại diện tông tòa) là thay mặt Đức thánh Pha-pha đấy, khi Đức Thầy cả Vít-vồ Vi-gai-rô A-phô-sút-tô-li-cô, chửa có làm phép Áp-phô-rô-ba-si-ô (Approbatio) cho chúng tôi, cùng khi người chửa cho



chúng tôi bèn người cho được làm việc ấy, thì chúng tôi chẳng dám làm dầu chúng tôi hay là dòng tôi tá có phép rộng gì riêng mặc lòng, thì chúng tôi cũng chẳng dám cậy phép rộng ấy, mà làm việc gì trước khi người chửa cho làm, cùng sự về xét các Vu-la (Bulla= sắc lệnh) các phép Đức thánh Pha-pha ra, cùng các thư bên Rô-ma gửi sang, dầu thơ Đức thánh Pha-pha, dầu thư các Đức Thầy cả Ca-đi-na-lê, dầu lời hứa các Đức Thầy cả Ca-đi-na-lê, thì chẳng có bao giờ chúng tôi dám xem xét gì đấy, chẳng có bao giờ chúng tôi dám làm cho ngăn trở phép ấy, dầu có lẽ nào mà gọi được Su-?-ti-xi-ô, hay là Ô-?-ti-xi-ô, hay là lẽ phải lẽ mặc lòng, thì chúng tôi lấy lòng kính mà chịu lấy cùng vâng các Vu-la cùng các lời hứa ấy, mà chẳng dám làm cho ngăn trở giãn việc ấy ra, chúng tôi sẽ vâng cùng cứ như vậy tức thì, hoặc cứ như vậy mà có sự gì khó chăng, thì chúng tôi vâng cùng cứ như vậy đã hứa, sau thì chúng tôi sẽ kêu đến Đức thánh Pha-pha mặc



Đức thánh Pha-pha phán xét, bằng các Vu-la Đức thánh Pha-pha A-lê-san-rê thứ Bảy (Alexandre VII) cùng Đức thánh Pha-pha Kê-lê-men-tê thứ Chín (Clement IX) và Đức thánh Pha-pha Kê-lê-men-tê thứ Mười (Clement X) đã ra thì chúng tôi lấy lòng kính mà chịu lấy cùng vâng như vậy, nhất là Vu-la Đức thánh Pha-pha Kê-lê-men-tê thứ Mười đã ra, ngày hai mươi ba tháng chạp, năm từ Con Đức Chúa Lời ra đời là một nghìn sáu trăm bảy mươi ba năm, mà trong Vu-la ấy, người lại phán lại, như trong các Vu-la [?] Đức thánh Pha-pha trước đã ra, cùng lại X lại như các Đức Thầy cả Ca-đi-na-lê đã X về bênh lấy các Đức Thầy cả Vít-vồ Toà Thánh đã sai, cùng cho làm Vi-gai-rô A-phô-sút-tô-li-cô (Vigario Apostolico) phương này, chúng tôi lại lấy lòng kính, mà chịu cùng vâng lời Vu-la cũng một Đức thánh Pha-pha ấy đã ra, là ngày mồng bảy tháng sáu năm tự Con Đức Chúa Lời ra đời là một nghìn sáu trăm bảy mươi bốn năm, mà trong Vu-la ấy Đức thánh Pha-pha phán tỏ các Đức Thầy Vít-vồ Thiên Trúc (ý nói Goa) chẳng được bắt chước



cùng xem xét gì, về các Đức Thầy cả Vít-vồ Vi-gai-rô A-phô-sút-tô-li-cô (Vicario Apostolico, thuộc Tòa thánh) và các Thầy cả Vi-gai-rô Rê-ru-lê (Vicario Regular, thuộc các dòng tu) người, cùng các Thầy cả Sa-sê-do-tê thuộc về người trong những nước Đức thánh Pha-pha đã cho làm thay mặt Đức thánh Pha-pha đấy, mà lại các phép các việc trong những nơi ấy, thì về phần riêng các Đức Thầy cả Vít-vồ Vi-gai-rô A-phô-sút-tô-li-cô mà chớ, chúng tôi lại lấy lòng kính mà chịu cùng vâng Vu-la cũng một Đức thánh Pha-pha Kê-lê-men-tê thứ Mười đã ra ngày hai mươi ba tháng chạp, năm tự Con Đức Chúa Lời ra đời là một nghìn sáu trăm bảy mươi ba năm, mà trong Vu-la ấy Đức thánh Pha-pha cấm ngặt các đấng làm Thầy dòng nào dòng nào mặc lòng, chẳng cho đi xin Vít-vồ nào Thiên Trúc cho bèn, cho được làm việc gì, về chính đấng Bề trên phải làm việc ấy trong những nơi về các Đức Thầy Vít-vồ Vi-gai-rô A-phô-sút-tô-li-cô dầu chẳng xin, song le liều chước cho được bèn ấy, dầu hư không mà Đức Thầy cả Vít-vồ nào bên ấy cho,



thì Đức thánh Pha-pha cũng cấm chẳng cho chịu lấy bèn ấy nữa.

Sau nữa chúng tôi chẳng những là vâng các Vu-la trước ấy, cùng mọi sự kể trong ấy, và các lời hứa các Đức Thầy cả Ca-đi-na-lê, mà lại tự nay về sau Đức thánh Pha-pha sẽ ra Vu-la nào cùng các Đức Thầy Ca-đi-na-lê sẽ ra phép nào, về bênh lấy các Đức Thầy cả Vít-vồ Vi-gai-rô A-phô-sút-tô-li-cô, thì chúng tôi sẽ lấy lòng ngay thật thà mà chúng tôi sẽ vâng cho trọn mọi phép, cùng mỗi một phép đã kể trước sau thì chúng tôi sẽ cứ cho trọn chẳng dám sai, cùng chẳng dám lấy chước [mốc?] cáo gì cho khỏi vâng đâu, hoặc là cách nào cách nào mà chúng tôi sai, là sự chúng tôi xin. Đức Chúa Lời gìn giữ chúng tôi cho khỏi, lễ ấy dầu trí lần chúng tôi sai, thì muôn sao lần chúng tôi cam nhịn, [?] sao vạ Đức thánh Pha-pha phạt kẻ sai trong các Vu-la trước ấy, cùng các vạ có trong thư hứa các Đức Thầy cả Ca-đi-na-lê mới ra, mà có lời thề



này trong ấy, Đức thánh Pha-pha In-no-sen-si-ô thứ Mười Một đã xét, cùng phán hứa lại cứ như vậy, vậy chúng tôi để tay chúng tôi trên lời thánh Ê-van-giê-li-âm (Evangelium, sách Phúc Âm) là lời Đức Chúa Giê-su đã truyền chúng tôi hứa miệng, chúng tôi cậy, chúng tôi thề như vậy, chúng tôi xin Đức Chúa Lời cùng Lời Đức Chúa Giê-su này phù hộ cho chúng tôi.

Tôi là Gia-cô-bê Chiến Sa-sê-do-tê Pha-rô-cu-sút Vạn Nỗ chính tay tôi viết
Ego Jacobus Văn Chiên Sacerdos Parochus Vạn Nỗ propria manu

Tôi là An-tôn Quế Sa-sê-do-tê Pha-rô-cu-sút Kẻ Sét chính tay tôi viết
Ego Antonius Koe Sacedos Parochus Kẻ Sét propria manu

Tôi là Phi-li-phê Trà Sa-sê-do-tê Pha-rô-cu-sút Kỳ Lan chính tay tôi viết
Ego Philippus Văn Trà Sacedos Parochus Kẻ Sét propria manu

Tôi là Si-mong (Kiên) Sa-sê-do-tê Pha-rô-cu-sút Kiên Lao chính tay tôi viết
Ego Simon Kiên Sacedos Parochus Kiên Lao propria manu

Tôi là Lê-ong Trung Sa-sê-dô-tê Pha-rô-cu-sút An Việt chính tay tôi viết
Ego Leo Văn Troũ Sacedos Parochus An Viet propria manu

Tôi là Mát-ty-nho Sa-sê-dô-tê Pha-rô-cú-sút Bùi Chu chính tay tôi viết.
Ego Martinus Sacedos Parochus Bùi Chu ipropria manu



Chúng tôi là Ta-dêu Lý Thường Phi-li-xê Tấn đã nghe đã đọc cùng để tay trên sách Ê-van-giê-li-âm cùng khấn hứa cùng thề thốt như làm vậy.

Tôi là Ta-deu Lí Thành Sa-sê-đô-tê chính tay tôi viết
Ego Thaddeus Lí Thành Sacedos propria manu

Tôi là Phi-li-xê Tấn Sa-sê-đô-tê chính tay tôi viết
Ego Felix Văn Tấn Sacedos propria manu

(Trang chót còn có chứng từ bằng tiếng Latinh cho lời tuyên thệ này)

Nos infra scripti fidem facimus et attestamur magistros Simonem Kien Leonem Trũ, Martinum Bùi Chu, sacerdotes parochos Tonkinenses, item Thaddeum Lí cum Felice Tấn, etiam sacerdotes Tonkinenses jurasse et vovisse coram nobis ad hoc deputatis ab illustrissimis et reverendissimis D.D. nostris Jacobo Episcopo aurensi et Francisco Episcopo ascadonensi Vicarius apostolicis Regni Tonkini se fidem inviolabilem perpetuo servaturos omnibus quae in decreto suprascripto contenta sunt in cuius rei fidem et testimonium praesentes propria manu signavimus, datum in Regno Tonkini, anno millesimo sexentesimo octogesimo tertio, die — mensis decembris

Ioannes Ludovicus sarraute presbiter et missionarius apostolicus
Gabriel delaVigne, missionarius apostolicus

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, làm chứng và xác nhận rằng các thầy Simon Kiên, Lê-ông Tru[ng], Martin Bùi Chu, các linh mục quản xứ người Đàng Ngoài, cùng với Thaddeus Lí và Felix Tấn, cũng là các linh mục người Đàng Ngoài, đã tuyên thệ và cam kết trước mặt chúng tôi — những người được các Đức Cha rất đáng kính và rất khả kính, các Đức Cha Jacques, Giám mục Aurensis, và François, Giám mục Ascalonensis, các Đại diện Tông tòa của Vương quốc Đàng Ngoài, ủy nhiệm cho việc này — rằng họ sẽ trung thành và bất khả vi phạm, mãi mãi tuân giữ tất cả những điều được ghi trong sắc lệnh nói trên.

Để làm bằng chứng và chứng thực cho việc ấy, chúng tôi đã ký tên dưới đây bằng chính tay mình.

Ban hành tại Vương quốc Đàng Ngoài, năm một nghìn sáu trăm tám mươi ba, ngày … tháng Mười Hai.

Gioan Luy Sarraute, linh mục và thừa sai Tông tòa
Gabriel dela Vigne, thừa sai Tông tòa

Joseph Nguyễn Nam dịch.


Kinh cầu Đức Bà - bản 1865

 Tư liệu Hán Nôm Công giáo — Kinh Cầu Đức Bà bản 1865 (kỳ 2)

Bản kinh này còn giữ những chữ phiên âm của tiếng Bồ sang tiếng Việt, dấu vết của thời các thừa sai dòng Tên còn sót lại.
Bản Kinh Cầu Đức Bà Nôm (theo bản khắc 1865, phần chữ Nôm xem hình dưới)



Hình 1
Ky-ri-ê ê-lê-i-son** (tam thanh= 3 lần)
[**Hy lạp: kyrie eleison, Xin Chúa thương xót]
Chúa Dêu Cha ở trên trời. (Thưa:) Thương xem chúng tôi.
Chúa Dêu Con chuộc tội cứu thế ...
Chúa Dêu Phi-ri-tô Sang-tô...
Ba Ngôi cùng một Thiên địa chân Chúa...
Rất thánh Ðức Bà Ma-ri-a. (Thưa:) Cầu cho chúng tôi
Rất thánh Ðức Bà, Mẹ Chúa Dêu..
Rất thánh Đức Bà, đồng thân trên hết đồng trinh...
Ðức Mẹ Chúa Ki-ri-xi-tô...
Ðức Mẹ ga-ra-thi-a** Thiên Chúa... [**Latinh: gratia, ơn sủng]



Hình 2
Ðức Mẹ cực thanh cực tịnh...
Đức Mẹ trọn tốt trọn lành...
Đức Mẹ thiên hạ kính mến...
Ðức Mẹ cực mầu cực nhiệm...
Ðức Mẹ soi dẫn sự lành sự thánh...
Ðức Mẹ sinh Chúa Tạo thiên lập địa...
Ðức Mẹ sinh Chúa Cứu Thế...
Ðức Nữ cực khôn cực ngoan...
Ðức Nữ thiên hạ kính chuộng...
Ðức Nữ thiên hạ ngợi khen...
Ðức Nữ có tài có phép...
Ðức Nữ có lòng khoan nhân...
Ðức Nữ ngay chính thật thà...
Ðức Bà là gương nghĩa đức...
Ðức Bà là tòa Chúa Trời...
Ðức Bà cho chúng tôi vui mừng.
Ðức Bà là giống trọng thiêng...
Ðức Bà là giống kính chuộng...
Ðức Bà như hoa thơm lạ vậy...


Hình 3
Ðức Bà như lầu đài Ða-vít...
Ðức Bà như tháp ngà báu vậy...
Ðức Bà như đền vàng vậy...
Ðức Bà như hòm bia Thiên Chúa để truyền vậy...
Ðức Bà là cửa Thiên đàng...
Ðức Bà như sao mai sáng vậy...
Ðức Bà cứu kẻ liệt kẻ khốn...
Ðức Bà bầu cho kẻ có tội...
Ðức Bà yên ủi kẻ âu lo...
Ðức Bà phù hộ kẻ có đạo...
Nữ vương ngự trên hết đấng thiên thần...
Nữ vương ngự trên hết thánh Tổ tông...
Nữ vương ngự trên hết thánh biết Sấm truyền...
Nữ vương ngự trên hết thánh Tông đồ...
Nữ vương ngự trên hết thánh Tử vì đạo...
Nữ vương ngự trên hết thánh tu hành..
Nữ vương ngự trên hết các thánh Ðồng trinh...
Nữ vương ngự trên hết các thánh..


Hình 4
Nữ vương khỏi tội tổ tông truyền...
Nữ vương rất thánh rô-sa-ri-ô**... [**Latinh, chuỗi Mân côi]
Nữ vương ban cho thiên hạ được bằng yên...
Đức Bà Thánh Mẫu làm lành cho chúng tôi. (Thưa:) Đức Bà Thánh Mẫu làm lành cho chúng tôi.
Đức Bà Thánh Mẫu nghe chúng tôi. (Thưa:) Đức Bà Thánh Mẫu nghe chúng tôi.
Đức Chúa Giê-su chuộc tội cứu thế (tam thanh: 3 lần)**
[**Thưa: Chúa tha tội chúng tôi... nghe chúng tôi... chữa chúng tôi (không có trong bản in này, nhưng có trong các kinh cầu khác)]
[Lời nguyện]
Chúng tôi lạy ơn rất thánh Đức Bà, Mẹ Chúa Dêu, chúng tôi cậy trông Ðức Bà là Chúa bầu chúng tôi. Xin cho chúng tôi biết lòng Ðức Mẹ yêu dấu con mọn này còn ở dưới thế cách xa mặt Mẹ. Ðức Chúa Giêsu xưa xuống thế gian chẳng bỏ loài kẻ có tội, lại liều mình chịu nạn chịu chết, vì hết cả và loài người ta thì Ðức Mẹ cũng một lòng theo Con như vậy. Đức Mẹ khoan thay nhân thay, chớ ghé mặt đi mà chẳng nhìn chúng tôi. Xin Ðức Mẹ thương xem dạy dỗ yên ủi chúng tôi. Con cậy Mẹ có phép nhiều trên


Hình 5
hết thần thánh. Chúng tôi còn ở dưới thế này như kẻ đi biển cả vậy. Ðức Mẹ là như ngôi sao chính, ngự giữa trời phương bắc vậy. Xin Ðức Mẹ dẫn đàng cho chúng tôi được theo, kẻo phải sa trầm luân địa ngục vô cùng. Chúng tôi trông Ðức Mẹ cho ngày sau được vào cửa thiên đàng, xem thấy Ðức Chúa Giêsu cùng Ðức Mẹ, được chịu muôn muôn sự phúc gồm hết mọi sự tốt lành, chẳng hay hết chẳng hay cùng. Amen.
+++++

Bản kinh Nôm này đã được cập nhật năm 1924 và dịch sang Quốc ngữ, cập nhật các từ cổ và Việt hoá một số thuật ngữ gốc Bồ. Lời nguyện khác với bản Kinh Cầu Chữ vì không dùng cho lễ mồ, nhưng đọc trong các ngày lễ kính Đức Mẹ.
Có thể xem bản kinh mới ở mục Kinh Cầu Đức Bà 1 trong trang tư liệu của giáo phận Hà Nội

- Nguồn: FB Anh Q Tran 

Công thức rửa tội bằng tiếng Việt được chuẩn hoá từ năm 1645.




Năm 1645 là một năm quan trọng trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam. Đó là năm công thức rửa tội bằng tiếng Việt được xác nhận, và cũng là năm thừa sai Alexandre de Rhodes lãnh nhiệm vụ đi Roma để báo cáo về tình hình truyền giáo ở Viễn Đông.

Các thừa sai (nhà truyền giáo) Dòng Tên đã đến Đàng Trong giảng đạo từ năm 1615. Lúc đầu họ không biết tiếng Việt nên phải nhờ các Nhật kiều sống ở Hội An giúp phiên dịch. Vì những người này không rành ngôn ngữ nhà đạo nên có khi dịch sai gây nhiều hiểu lầm.

Theo Cristoforo Borri ghi lại trong hồi ký Xứ Đàng Trong thì trước khi rửa tội cho người dự tòng, thì các thừa sai sẽ hỏi rằng có muốn theo đạo không, thì bị dịch là: “con nhỏ có muốn vào trong lòng Hoa Lang chăng?” thay vì hỏi rằng: “con nhỏ có muốn làm Ki-ri-xi-tan (Ki-tô hữu) chăng?” Để khắc phục hiểu lầm, các thừa sai cố gắng học tiếng Việt để trực tiếp giảng dạy chứ không qua phiên dịch.

Tuy vậy nghi thức rửa tội vẫn được cử hành bằng tiếng La-tinh khi chưa có tiếng Việt tương đương. Khi đổ nước trên đầu, vị thừa sai sẽ nói: “Ego baptismo te, in Nomine Patris et Filii et Spirito Sancti.” Người nhận sẽ thưa: “Amen”

Sau một thời gian truyền giáo ở Đàng Ngoài từ năm 1627, các thừa sai được nhiều trợ tá người Việt, là các thầy giảng giúp phiên dịch và rửa tội cho các người dự tòng bằng ngôn ngữ mẹ đẻ. Lý do cần có một công thức rửa tội bằng tiếng Việt là vì phần lớn các việc giảng đạo và rửa tội, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa thường được giao cho các thầy giảng, vì các thừa sai chỉ quanh quẩn ở kinh thành.
Tuy vậy công thức rửa tội bằng tiếng Việt chưa được thống nhất cho đến năm 1645 ở Macau.

Năm đó 35 thừa sai Dòng Tên cả những người đi truyền giáo ở Việt Nam lẫn những người dạy thần học ở Macau, họp nhau để phân tích các cách diễn đạt bằng tiếng Việt.

Có 2 công thức được đưa ra, chỉ khác nhau có một chữ.

A. Ý kiến của đa số thừa sai và các giáo sư ở Macau, trong đó có Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa là: “Tao rửa mày, nhân Danh Cha và Con và Spirito Santo* (=Thánh Thần). Amen” [*cho đến thế kỷ 19, tên của Chúa Thánh Thần vẫn đọc theo tiếng Bồ, chưa được Việt hoá như sau này]

B. Bên thiểu số có Alexandre De Rhodes và Mettelus Saccanus cho rằng phải nói “nhứt/nhất Danh” (một tên) thì mới rõ nghĩa và đúng thần học, chứ không thì sẽ hiểu là có Ba Chúa riêng biệt

Cuộc tranh luận xoay quanh việc liệu có cần phải nhân “nhất” danh và “danh” là số nhiều hay số ít.

Phe đa số cho rằng không cần phải thêm chữ nhất cho rườm rà vì khi nói “nhân Danh (因名) Cha và Con và Su-phi-ri-tô San-tô” là nhân danh cả 3 cùng lúc, chứ không tách ra. Họ cũng trưng dẫn công thức rửa tội bên Trung Hoa lúc đó là: “Ngã tẩy nhĩ nhân Phụ cập Tử cập Thánh Thần chi danh giả” 我 洗儞 因 父及子及聖神之名者

Cuối cùng trong biên bản có 31 phiếu thuận, 2 phiếu trắng và 2 phiếu chống (ARSI, Jap-Sin 80, tờ 36v)

Trong một tài liệu bằng tiếng Latin, mang tựa “Chung quanh mô thức rửa tội bằng thổ ngữ An-Nam” (ARSI, Jap-Sin 80, tờ 76r-80v), không ghi tên người soạn và ngày tháng (theo thủ thư kho lưu trữ thì là 1648) có đính kèm 1 trang giấy bằng chữ Nôm, có phiên âm quốc ngữ và Latin do 14 thầy giảng ở Đàng Ngoài đồng ký tên.

Phần này bắt đầu như sau:

“nhân danh Cha và Con và Sư-phi-ri-tô Sang-tô. Ý này An-Nam các bổn đạo thì tính rằng ra ba danh, ví bằng muốn ý làm một thì phải nói: nhân nhất danh Cha, v.v. Tôi là Giu-ong Cây Trâm cũng nghĩ vậy. Tôi là An-rê Sen cũng nghĩ vậy. Tôi là Bên-tô Văn Triển ...”

Với sự đồng thuận của các tín hữu Việt Nam, công thức rửa tội nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa đã được chuẩn hoá từ đó về sau như được xác nhận trong lá thư của thừa sai Marini năm 1654 (ảnh 2)

Ai quan tâm có thể đọc thêm các tác phẩm của cố linh mục Đỗ Quang Chính bàn về chuyện này

—-

Ảnh 1: Lời chứng của các tín hữu Việt Nam 1648 (ARSI, Jap-Sin 80, tờ 79)
Ảnh 2: Báo cáo của Philippus Marini năm 1654 (ARSI, Jap-Sin 80, tờ 86v)



Thêm một bản Kinh Lạy Cha ở thế kỷ 18






Tình cờ tôi tìm được một bản kinh Lạy Cha được phiên âm, kèm bản dịch tiếng Ý từ sách “Saggio practicco delle Lingue con prolegomeni e una raccolta di orazioni dominicali in più di trecento lingue e dialetti" (Thực hành ngôn ngữ khôn ngoan với phần giới thiệu và một bộ sưu tập các Kinh Lạy Cha trong hơn ba trăm ngôn ngữ và phương ngữ) in năm 1787 do Lorenzo Hervás (1735-1809) sưu tập.

Bản văn chép lại phiên âm Kinh Lạy bằng con chữ Latinh kèm theo phần giải nghĩa bằng tiếng Ý, do một cựu thừa sai dòng Tên ở Đàng Ngoài có tên là Onifori Villani ghi lại.

Hervas chú thích về Kinh Lạy Cha của Việt Nam như sau:
“In questa orazione si premette la parola riveriamo, perchè secondo il costume de’ Tonchinesi si dee fare un atto di riverenza a Dio avanti di parlare con lui. Ho fatta letteralissima la traduzione secondo i documenti datimi dall’ Exgesuita Sig. D. Onofrio Villani Missionario del Tonkino: e fra le parentesi ho introdotte alcune parole a maggior intelligenza del senso delle sentenze.”

Dịch sang tiếng Việt:
Trong lời nguyện này, người ta mở đầu bản kinh bằng chữ “Lạy” (dịch sát: “chúng con tôn kính”, riveriamo), bởi theo phong tục của người Đàng Ngoài (Tonchinesi), phải thực hiện một cử chỉ tôn kính đối với Thiên Chúa trước khi thưa chuyện với Ngài. Tôi đã thực hiện bản dịch một cách sát nghĩa nhất, dựa trên những tài liệu do cựu tu sĩ Dòng Tên, Don (Cha) Onofrio Villani, nhà truyền giáo tại Đàng Ngoài (Tonkino), cung cấp cho tôi; và trong các dấu ngoặc, tôi đã thêm vào một số từ ngữ để giúp hiểu rõ hơn ý nghĩa của các câu văn.

Đây là một chứng tích rất quý vì nó thuộc giai đoạn cực kỳ hiếm của lịch sử ngôn ngữ Công giáo Việt Nam, nằm trong giai đoạn chuyển tiếp sau thời các nhà truyền giáo Dòng Tên thế kỷ XVII-XVIII, nhưng trước khi các thừa sai Paris (MEP) thống trị hoàn toàn hoạt động truyền giáo thế kỷ XIX.

Soạn giả Lorenzo Hervás y Panduro không phải là một nhà truyền giáo ở Việt Nam; ông là một cựu tu sĩ Dòng Tên người Tây Ban Nha, nổi tiếng như một trong những nhà ngôn ngữ học so sánh đầu tiên của châu Âu. Sau khi Dòng Tên bị giải thể năm 1773, ông sống lưu vong tại Ý và thu thập tư liệu ngôn ngữ từ mạng lưới các cựu tu sĩ Dòng Tên trên khắp thế giới. Chính nhờ mạng lưới này mà ông có thể xuất bản bộ Idea dell’ Universo và các công trình về hơn 300 ngôn ngữ khác nhau.

Năm 1773, Giáo hoàng Clement XIV ban hành sắc chỉ Dominus ac Redemptor giải thể Dòng Tên. Sau biến cố này các tu sĩ Dòng Tên đang hoạt động tại Việt Nam bị buộc phải chuyển sang địa vị linh mục triều hoặc gia nhập hội dòng khác. Tuy Dòng bị giải thể về pháp lý, nhiều cựu tu sĩ vẫn tiếp tục phục vụ tại các giáo đoàn cũ. Vì trong các sách xuất bản cuối thế kỷ XVIII thường xuất hiện cách gọi ex gesuita (cựu tu sĩ Dòng Tên).

Điều này cho thấy vào năm 1787, Onofrio Villani không còn là tu sĩ Dòng Tên nữa, nhưng soạn giả Lorenzo Hervas vẫn xem ông là nguồn tư liệu có thẩm quyền về ngôn ngữ và tập tục Tonkin.

Theo ghi chép của cha Philiphê Bình và tài liệu đương thời, cha Onifrio Villani (có chỗ chép là Vigliani), có tên Việt là Cố Hậu, là một trong những nhà truyền giáo Dòng Tên cuối cùng đến Việt Nam. Ông sinh năm 1715 ở Ý, đến Đàng Ngoài (Bắc Hà) 2 lần, lần đầu ở Nghệ An từ năm 1755 đến năm 1760, sau đó ông về Roma xin gửi các cha Dòng Tên đến Việt Nam. Năm 1765, cha Villani Hậu trở lại Đàng Ngoài làm bề trên các cộng đoàn Dòng Tên và phục vụ các giáo đoàn ở Sơn Nam hạ (thuộc vùng Nam Định ngày nay). Năm 1779, cố Hậu rời Đàng Ngoài sang Quảng Đông để về Roma. Cùng đi với cha có hai thầy Quyền và thầy Thiều (hai thầy này có lẽ là hai người đầu tiên học thần học và chịu chức linh mục ở Roma). Vì dòng Tên đã bị giải thể, cha xin nhập dòng Phanxicô Capuchino ở Ý.

Vì sống ở Đàng Ngoài gần 20 năm, cố Hậu được coi như là người thành thạo văn hóa và ngôn ngữ Đàng Ngoài. Soạn giả đã ghi lại nhận xét của ông về phong tục người Việt:
“theo phong tục người Tonkin, phải kính lạy Thiên Chúa trước khi thưa chuyện với Ngài.”

Theo đúng cách trình bày của Hervás thì Kinh Lạy Cha này đọc như sau (ảnh 1)

Tiếng Việt (phiên âm) : Tiếng Ý của Hervas
Chúng-toi : noi-io [cioè nostro]
lai Thien dia : riveriamo (di) cielo, terra
chen Chua : vero Signore
o tren bloi : stante sopra cielo
la Cha chung-toi : e Padre nostro
Chúng-toi nguyen : noi preghiamo
deant Cha ca : nome [del] Padre universale
sang : risplenda
Cuoc cha : regno [che il] Padre
tri, den : governa, arrivi
Bung I : ubbidiamo volontà
cha duoi : (del) padre già
dat, bang : (in) terra, come
tren bloi bai : sopra (in) cielo così
Chúng-toi xin : noi dimandiamo
cha rai : (al) padre oggi
cho chung-toi : dar ci
hang ngay : il pane quotidiano
dun : usare (cioè il cibo, che si usa)
du : bastante (cioè abbastanza)
E tha : e perdonare
no chung-toi : debiti nostri
bang chung-toi : come noi
cun tha : parimente perdoniamo
ke co no : quelli hanno debiti
Chúng-toi xin : noi dimandiamo
cho dee : non permettere
chung-toi sa : noi cadere
chung cam-do : in tentazione
Ben chua : ma libera
chung-toi : noi
chung su du : da cose cattive

Phục nguyên sang tiếng Việt hiện đại
Chúng tôi lạy Thiên Địa Chân Chúa ở trên trời là Cha chúng tôi.
Chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng.
Cuốc (Quốc) Cha trị đến.
Vâng ý Cha dưới đất bằng trên trời vậy.
Chúng tôi xin Cha rày cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ.
Và (?) tha nợ chúng tôi, bằng chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi.
Xin chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ.
Bèn chữa chúng tôi cho khỏi sự dữ.
—-

So sánh với các bản kinh Lạy Cha khác:
Nếu so sánh bản này với bản Nôm của Đức thầy Hilario da Costa Hy trong sách Các phép thế kỷ XVIII, bản của cha Bỉnh ghi lại bằng chữ Nôm cuối thế kỷ XVIII, cũng như Thánh Giáo Kinh Nguyện của địa phận Đông Đàng Ngoài thế kỷ XVIII, thì rõ ràng là Kinh Lạy Cha này khá trung thành với bản Kinh Lạy Cha mà cha Majorica đã phổ biến từ thế kỷ XVII (ảnh 2)

A) Kinh Lạy Cha chữ Nôm/ Quốc ngữ
trong Sách Các Phép, dịch từ Latinh (ảnh 3)
Cha chúng tôi là kẻ ở trên trời (mlời) xin cho tên (tin) người nên thánh nước người cai trị đến, vưng ý (êý) ở dưới đất bằng trên trời (mlời) vậy hãy ban cho chúng tôi hôm nay của ăn chúng tôi quen dùng mọi ngày cùng (cũ) tha cho chúng tôi những nợ (nhớ/nữa/nứa) chúng tôi bằng chúng tôi cũng tha kẻ có nợ (nữa) chúng tôi vậy xin (cũ) chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ (deồ) bèn chữa chúng tôi [khỏi] sự dữ.
Chú ý đây là bản dịch sát nghĩa từ tiếng Latinh để các cha hiểu ý nghĩa các từ ngữ khi làm lễ chứ không phải bản kinh đọc hàng ngày.

B ) Kinh Lạy Cha của thầy cả Bỉnh (ảnh 4)
眾碎𥛉恩天地真主。於𨕭𡗶羅吒眾碎。眾碎愿。名吒奇創。國吒治旦。𠳐意吒𠁑坦。平𨕭𡗶丕。眾碎吀吒。𣈙朱眾碎。恒㝵用堵。麻赦女眾碎。平眾碎拱赦。几固女眾碎丕。吀渚底眾碎。沙蒸感𠴗。卞助眾碎。蒸事与。亞綿。

Phiên âm theo tiếng Việt thế kỷ XVIII
Chúng tôi lạy ơn Thiên Địa Chân Chúa ở trên blời là Cha chúng tôi. Chúng tôi nguyện. danh Cha cả sáng. cuốc Cha trị đến. vơng ý Cha dưới đất. bàng trên blời vậy. Chúng tôi xin Cha. rằy cho chúng tôi. hàng ngày dùng đủ. mà tha nợ chúng tôi. bàng chúng tôi cũng tha. kẻ có nợ chúng tôi vậy. xin chớ để chúng tôi. sa chưng cám dỗ. bèn chữa chúng tôi. chưng sự dữ. A-men.

C) Kinh Lạy Cha in trong Thánh Giáo Kinh Nguyện cũng tương tự như vậy (ảnh 5)

D) Kinh Lạy Cha phiên âm bằng mẫu tự Latinh của cố Villani Hậu cũng được in lại trong các sưu tập khác, thí dụ như trong "The Lord's Prayer in 250 Languages and 180 Forms of Writing" Chủ biên Pietro Marietti, Wendell Jordan S. Krieg - NXB
Brain Books (1870) (ảnh 6)

E) Đến năm 1924, Kinh Lạy Cha được cập nhật câu đầu (ảnh 7), nhưng vẫn giữ phần lớn từ vựng cũ cho đến lần sửa đổi cuối cùng khi cải tổ phụng vụ vào năm 1970.

Lạy Cha chúng tôi ở trên trời.
Chúng tôi nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, vâng ý Cha dưới đất bằng trên trời vậy.
Chúng tôi xin Cha rày cho chúng tôi hằng ngày dùng đủ, và tha nợ chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi, lại chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ, bèn chữa chúng tôi cho khỏi sự dữ. (Bản 1924)

F) Bản phổ thông ngày nay (Sách lễ Roma 1970).
Lạy Cha chúng con ở trên trời,
chúng con nguyện danh Cha cả sáng,
nước Cha trị đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày
và tha nợ chúng con
như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.
Amen.
——

Nhận xét
Trong bản kinh của cố Villani Hậu, có mấy từ cổ rất đáng chú ý
- bloi = trời
- bung = vâng
- rai = rầy (giờ đây)
- e = có lẽ ở đây soạn giả ghi lầm thành chữ “e” (và) trong tiếng Ý. Trong tiếng Việt cổ cũng có trợ từ e (như trong cụm từ "e rằng") là mang ý nghĩa gốc là ngại, sợ, dè chừng, lo lắng hoặc cẩn trọng. Nhưng trong mạch văn này, khó có dùng như vậy.
- ben chua = bèn chữa (giải cứu)
- chung = chưng là một trợ từ hay dùng trong trong các văn bản xưa, không rõ nghĩa. Chữ Nôm giả tá viết là 蒸 (chưng: nấu lâu)
- cuoc cha tri den = quốc Cha trị đến (bây giờ là Nước Cha trị đến)

Giá trị của bản kinh này không nằm ở bản dịch tiếng Ý của Hervás, mà nằm ở chỗ nó là một chứng tích ngôn ngữ học của tiếng Việt Công giáo, được truyền từ các nhà truyền giáo Dòng Tên ở Đàng Ngoài từ thế kỷ XVII sang mạng lưới học giả lưu vong của Dòng Tên tại Ý sau năm 1773.

Nếu đào sâu thêm về cố Villani Hậu rất có thể chúng ta sẽ tìm ra được một mắt xích còn khá ít được nghiên cứu giữa truyền thống Dòng Tên Việt Nam thế kỷ XVII (de Rhodes, Maiorica) và công trình ngôn ngữ học so sánh của Hervás cuối thế kỷ XVIII.

Có thể cố Villani Hậu có viết tài liệu gì đó (bằng quốc ngữ) mà nay đã thất lạc. Nếu có thể tìm được các tài liệu ông đem về Ý thì sẽ là một khám phá thú vị. Đây là hướng nghiên cứu rất đáng theo đuổi.



Ứng dụng học chữ Nôm: Nôm Flow

 


Ứng dụng Nôm Flow (nomflow.app) của Albert Errickson, một công cụ học chữ Nôm sử dụng phương pháp lặp lại ngắt quãng (spaced repetition), giúp người học tiếp cận các tác phẩm Nôm kinh điển trong bối cảnh từng dòng, đồng thời hiển thị thứ tự nét cho mỗi chữ.


Những Trang Kinh từ Lisboa Gửi gắm về An Nam




Buổi sáng sớm ngày 7 tháng 1 năm 1796, bốn bổn đạo Công giáo người An Nam đang long đong vô định giữa biển cả ngoài khơi thuộc địa Macao của Bồ Đào Nha. Họ vừa thấp thỏm chờ đợi bóng dáng những thuyền buôn phương Tây ghé ngang qua Macao để quá giang, vừa lo sợ lính hầu của Giám mục Macao sẽ bắt họ mà bỏ ngục hoặc trục xuất về nước. May mắn thay, từ đằng xa có sáu chiếc thuyền buôn Anh kéo đến một trật. Bốn người An Nam này chèo thuyền lại gần mà hỏi thuyền trưởng từng chiếc để xin đi theo phụ giúp không công. Với bộ dạng rách rưới vì đã ngủ ngoài biển nhiều ngày liền, bốn người này đều không vừa mắt 5 thuyền trưởng liên tiếp nên phải chèo đến chiếc cuối cùng mà xin. Tưởng đâu mình cũng sẽ bị từ chối như trước, họ vui mừng khôn xiết khi được thuyền trưởng chiếc tàu Santa Anna nhận chở sang Bồ Đào Nha. Cứ như vậy, họ đã thoát khỏi vòng vây của Giám mục Macao trong phút chót và lên đường vượt biển 6 tháng trời để đến Lisboa, nhưng họ đâu biết được chuyến hải trình này đánh dấu lần cuối cùng họ được nhìn thấy quê hương An Nam, gia đình thân thuộc cùng anh em bạn hữu.

Đó là câu chuyện của Thầy cả Philiphê do Rosario Nguyễn Văn Bỉnh (1759-1833) và ba bạn đồng hành là Giuse Trung, Tôma Nhân và Phanxicô Ngần - những bổn đạo Công giáo thuộc về truyền thống Dòng Tên cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Chuyến đi sứ của họ vào năm 1796 gắn liền với nạn ly giáo Garasa tai tiếng đã làm rúng động Giáo hội Công giáo Việt Nam ở Đàng Ngoài vào cuối thế kỷ 18. Với mục đích cầu xin Nữ hoàng Maria I và Thái tử João VI của triều đình Đế quốc Bồ Đào Nha đặt một Giám mục người Bồ để đại diện cho nỗi khổ tâm của các bổn đạo Dòng Tên, Thầy cả Bỉnh và các bạn vượt biển trong niềm hi vọng tràn trề, chỉ để nhận lại những đắng cay vào cuối năm 1807 khi Hoàng tộc Bồ Đào Nha bỏ kinh đô Lisboa mà tháo chạy sang Brazil để lánh cuộc xâm lăng của Napoleon Bonaparte - qua đó chấm dứt mọi hy vọng tìm một Giám mục Bồ Đào Nha cho Đàng Ngoài của sứ đoàn.

Khi mục tiêu xin Giám mục chẳng thể hoàn thành và Công sứ Tòa Thánh Vatican cũng ngăn không cho sứ đoàn về nước, Thầy cả Bỉnh đã dành 26 năm cuối đời để viết hơn 20 đầu sách bằng ba thứ tiếng để giãi bày những tâm sự của mình nơi xứ người. Ba trong số những đầu sách đó là các thủ bản Borg.tonch.17, Borg.tonch.18 và Borg.tonch.34 đặc biệt được chép tay bằng chữ Nôm và lưu giữ trong Bộ sưu tập của Đức Hồng y Stefano Borgia tại Thư viện Vatican.

Trong đa phần các sách của mình, Thầy cả Bỉnh đều chép và dịch sang tiếng Việt với chữ Quốc ngữ vì đó là di sản ngôn ngữ mà Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) của Dòng Tên đã để lại cho bổn đạo An Nam. Việc ba thủ bản trên được chép lại bằng chữ Nôm cho thấy tầm quan trọng của chúng đối với Thầy cả Bỉnh, vì các bổn đạo Công giáo An Nam thời bấy giờ chỉ quen đọc các sách chữ Hán và chữ Nôm mà không biết chữ Quốc ngữ. Theo Thầy cả Bỉnh, chữ Quốc ngữ chỉ là thứ chữ các Thừa sai dùng để học tiếng Việt nhanh chóng, còn chữ Nôm mới là “chữ nước ta”. Việc Thầy cả Bỉnh chỉ chép ba sách chữ Nôm cho thấy ông ưu tiên đặt chúng lên làm món quà to lớn nhất dành cho anh em bổn đạo ở Đàng Ngoài, trong trường hợp bản thân không còn sống sót đến ngày trở về quê hương. Vậy ba món quà dài gần 1000 trang chữ Nôm này mà Thầy cả Bỉnh muốn gửi về quê nhà có nội dung ra sao

Thủ bản Borg.tonch.18 hay “Sách kinh Thầy cả Bỉnh” hoặc “Sách kinh tuần cửu nhật” được hoàn thành năm 1815 và là một tập hợp những kinh nguyện mà bổn đạo Dòng Tên thường đọc hằng ngày, trong thánh lễ Chúa Nhật và trong các dịp lễ trọng thể khác; cùng những bài ngắm chín ngày trước lễ kính một số thánh nam nữ và dịp lễ trọng mà Thầy cả Bỉnh đặc biệt lưu tâm và dành tâm sức mà dịch từ tiếng Bồ Đào Nha. Được nhắc đến đầu tiên trong thủ bản này là bà thánh Anna, người theo truyền thống của Giáo hội Công giáo là bà ngoại của Đức Chúa Giêsu. Thầy cả Bỉnh kính mến thánh nữ này vì con tàu chở ông từ Macao sang Lisboa mang tên của bà, việc được ông coi như một phép lạ lớn. Kế đến là ông thánh Giuse, vì người là thánh Quan thầy bảo trợ cho nước An Nam kể từ khi Cha Đắc Lộ đi truyền đạo ở Đàng Ngoài hơn 100 năm trước khi Thầy cả Bỉnh ra đời. Tiếp nữa là một phần kinh cửu nhật nhỏ để kính lễ Giáng sinh của Đức Chúa Giêsu trong hang đá Bêlem. Ngoài ra cũng có kinh cửu nhật dành cho lễ kính Bảy Sự Thương Khó của Đức Bà Maria, dù không phải là một lễ trọng trong đạo Công giáo nhưng được Thầy cả Bỉnh hết mực sùng kính. Gần cuối sách là danh mục gần 100 ơn xá tội dành cho các bổn đạo khi họ đi thăm viếng những nhà thờ ở Roma cùng Đất Thánh vào các dịp lễ nhất định trong đạo. Thầy cả Bỉnh cũng viết một bản giáo huấn dài để nhắc nhở bổn đạo Đàng Ngoài về việc giáo dục cho con cái cùng sắp đặt cưới hỏi. Không chỉ giới hạn ở chữ Nôm, cuốn sách này cũng có một số trang cuối gồm các kinh nguyện tiếng Latinh dành cho các linh mục đọc vào mỗi ngày trong tuần cửu nhật kính các thánh. Cuốn sách kết thúc bằng một kinh cầu ông thánh Phanxicô Xaviê, là vị thánh yêu thích của Thầy cả Bỉnh, cùng những di nguyện cuối cùng của ông muốn gửi gắm các sách mình viết về cho bổn đạo Đàng Ngoài. Cuối sách cũng có một phụ lục về Đền Thánh Giêrusalem và các phép lạ khác vào thời bách hại đạo ở Đế quốc La Mã.

Thủ bản Borg.tonch.17 hay “Sách khuyên xem lễ Misa và các truyện thánh” được hoàn thành năm 1818 và là tiếp nối của thủ bản 18. Theo Thầy cả Bỉnh thì khi đóng sách thành quyển vượt số trang nên ông phải tách khoảng 300 trang còn lại trong sách kinh thành một cuốn riêng nên ta mới có thủ bản 17 này. Tuy mang nhan đề là khuyên bảo bổn đạo phải đi tham dự thánh lễ thường xuyên, thủ bản này lại được cấu thành từ nhiều truyện thánh và truyện phép lạ được trích từ trong Kinh Thánh hoặc ngoài đời. Cấu trúc của sách có ba phần chính. Phần thứ nhất là phần giải thích sự cao trọng của các nghi thức trong Thánh Lễ, nhưng lại có nhiều truyện phép lạ liên quan đến Thánh Lễ hơn để khuyên răn bổn đạo. Phần thứ hai là những lời giải thích vì sao những người đi dự Thánh Lễ lại được đầy ơn phúc cả xác và hồn, nhưng lại được cấu thành từ nhiều mảng truyện: các phép lạ trong Cựu Ước, trong hạnh các thánh, trong Tân Ước, trong thiên nhiên, dân gian và trong lịch sử truyền giáo của Dòng Tên ở Trung Hoa và Đàng Ngoài. Sự đa dạng của mục này cho thấy, lối viết truyện đặc trưng của Thầy cả Bỉnh là lối viết tản mạn với nhiều chủ đề khác nhau trong cùng một phần. Sau hết là phần giải thích những cái hại cho bổn đạo khi không đi dự Thánh Lễ. Phần này lại bao gồm nhiều truyện phép lạ,những bổn đạo phải chịu phạt vì thiếu tôn trọng Thánh Lễ. Hai thủ bản 17 và 18 cùng nhau tạo thành một cuốn sách kinh nguyện đặc trưng cho văn phong của Thầy cả Bỉnh, không chỉ đơn thuần là kinh nguyện rập khuôn mà còn chứa đầy những truyện kinh điển về sự đạo để giúp bổn đạo dễ học hỏi hơn.

Thủ bản Borg.tonch.34 hay “Sách Dũng Lý Hộ Thần” thật ra là một tác phẩm đã thất lạc từ lâu của Thừa sai Girolamo Maiorica (1591-1656), người được coi là ông tổ của Công giáo Hán Nôm. Thừa sai Maiorica đã để lại khoảng 15 trước tác bằng chữ Hán và chữ Nôm, hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Pháp, thế nhưng “Dũng Lý Hộ Thần” hay Meditação da Alma (“Chiêm niệm cho Linh hồn”) lại không nằm trong số đó. May mắn thay Thầy cả Bỉnh đã chép lại nguyên văn cuốn sách này thành hai bản chữ Quốc ngữ (Borg.tonch.30) và chữ Nôm (Borg.tonch.34) để lưu giữ dấu vết cuối cùng của tác phẩm quý hiếm trên. Phần đầu của thủ bản 34 là tập hợp cách ngắm tràng hạt Mân Côi cùng các kinh nguyện đơn lẻ, có lẽ được trích nguyên văn từ thủ bản 18. Phần cốt lõi của thủ bản này chính là khoảng 80 trang giấy ở giữa, là toàn bộ sách Dũng Lý Hộ Thần. Cuốn sách này được mô phỏng theo tác phẩm chiêm niệm kinh điển “Linh Thao” (Spiritual Exercises) của thánh Inhaxiô de Loyola, là đấng sáng lập Dòng Tên. Tác giả của cuốn sách này, Thừa sai Maiorica, khuyến khích bổn đạo phải ngắm mỗi một sự chiêm niệm trong một ngày, để tạo thành 31 điều ngắm trong một tháng tròn. Nội dung của các ngắm là những giáo lý căn bản trong đạo Công giáo về thể trạng của linh hồn loài người sau khi qua đời, để củng cố Đức Tin của các bổn đạo lâu dài. Phần cuối của sách là tập hợp những cách ngắm tràng hạt Bảy Sự Thương Khó của Đức Bà Maria cùng Chín Sự Thương Khó của Đức Chúa Giêsu, do thánh Giáo hoàng Grêgôriô trước tác.

Trong tủ sách của Thầy cả Bỉnh, ba thủ bản chữ Nôm trên chiếm một vị trí quan trọng bậc nhất vì chúng là ưu tiên hàng đầu của ông, với tâm niệm là nếu có cơ hội thì gửi gắm sách kinh về cho bổn đạo Dòng Tên ở Đàng Ngoài. Do đó, ông mới bỏ công dịch từng truyện từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Việt rồi lại chép thành chữ Nôm để bổn đạo có thể đọc được. Những sách viết bằng chữ Quốc ngữ thì ông có ý căn dặn người nhà Dòng Tên đọc, rồi sao lại thành chữ Nôm luôn một thể để bổn đạo có thể hiểu. Với việc ba thủ bản này được số hóa trên nền tảng Digitizing Việt Nam, với phần gõ chữ Nôm và chuyển tự sang chữ Quốc ngữ đầy đủ, thì di nguyện cuối cùng của Thầy cả Bỉnh, là đem các sách của ông về lại vòng tay quê hương để hậu thế có thể tìm đọc, đã được hoàn tất.

Mời bạn đọc cùng thưởng thức ba thủ bản trên trong bộ sưu tập “Thủ bản Kinh nguyện Công giáo Hán Nôm của Philipphê Bỉnh” trên Digitizing Việt Nam: