Năm 1645 là một năm quan trọng trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam. Đó là năm công thức rửa tội bằng tiếng Việt được xác nhận, và cũng là năm thừa sai Alexandre de Rhodes lãnh nhiệm vụ đi Roma để báo cáo về tình hình truyền giáo ở Viễn Đông.
Các thừa sai (nhà truyền giáo) Dòng Tên đã đến Đàng Trong giảng đạo từ năm 1615. Lúc đầu họ không biết tiếng Việt nên phải nhờ các Nhật kiều sống ở Hội An giúp phiên dịch. Vì những người này không rành ngôn ngữ nhà đạo nên có khi dịch sai gây nhiều hiểu lầm.
Theo Cristoforo Borri ghi lại trong hồi ký Xứ Đàng Trong thì trước khi rửa tội cho người dự tòng, thì các thừa sai sẽ hỏi rằng có muốn theo đạo không, thì bị dịch là: “con nhỏ có muốn vào trong lòng Hoa Lang chăng?” thay vì hỏi rằng: “con nhỏ có muốn làm Ki-ri-xi-tan (Ki-tô hữu) chăng?” Để khắc phục hiểu lầm, các thừa sai cố gắng học tiếng Việt để trực tiếp giảng dạy chứ không qua phiên dịch.
Tuy vậy nghi thức rửa tội vẫn được cử hành bằng tiếng La-tinh khi chưa có tiếng Việt tương đương. Khi đổ nước trên đầu, vị thừa sai sẽ nói: “Ego baptismo te, in Nomine Patris et Filii et Spirito Sancti.” Người nhận sẽ thưa: “Amen”
Sau một thời gian truyền giáo ở Đàng Ngoài từ năm 1627, các thừa sai được nhiều trợ tá người Việt, là các thầy giảng giúp phiên dịch và rửa tội cho các người dự tòng bằng ngôn ngữ mẹ đẻ. Lý do cần có một công thức rửa tội bằng tiếng Việt là vì phần lớn các việc giảng đạo và rửa tội, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa thường được giao cho các thầy giảng, vì các thừa sai chỉ quanh quẩn ở kinh thành.
Tuy vậy công thức rửa tội bằng tiếng Việt chưa được thống nhất cho đến năm 1645 ở Macau.
Năm đó 35 thừa sai Dòng Tên cả những người đi truyền giáo ở Việt Nam lẫn những người dạy thần học ở Macau, họp nhau để phân tích các cách diễn đạt bằng tiếng Việt.
Có 2 công thức được đưa ra, chỉ khác nhau có một chữ.
A. Ý kiến của đa số thừa sai và các giáo sư ở Macau, trong đó có Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa là: “Tao rửa mày, nhân Danh Cha và Con và Spirito Santo* (=Thánh Thần). Amen” [*cho đến thế kỷ 19, tên của Chúa Thánh Thần vẫn đọc theo tiếng Bồ, chưa được Việt hoá như sau này]
B. Bên thiểu số có Alexandre De Rhodes và Mettelus Saccanus cho rằng phải nói “nhứt/nhất Danh” (một tên) thì mới rõ nghĩa và đúng thần học, chứ không thì sẽ hiểu là có Ba Chúa riêng biệt
Cuộc tranh luận xoay quanh việc liệu có cần phải nhân “nhất” danh và “danh” là số nhiều hay số ít.
Phe đa số cho rằng không cần phải thêm chữ nhất cho rườm rà vì khi nói “nhân Danh (因名) Cha và Con và Su-phi-ri-tô San-tô” là nhân danh cả 3 cùng lúc, chứ không tách ra. Họ cũng trưng dẫn công thức rửa tội bên Trung Hoa lúc đó là: “Ngã tẩy nhĩ nhân Phụ cập Tử cập Thánh Thần chi danh giả” 我 洗儞 因 父及子及聖神之名者
Cuối cùng trong biên bản có 31 phiếu thuận, 2 phiếu trắng và 2 phiếu chống (ARSI, Jap-Sin 80, tờ 36v)
Trong một tài liệu bằng tiếng Latin, mang tựa “Chung quanh mô thức rửa tội bằng thổ ngữ An-Nam” (ARSI, Jap-Sin 80, tờ 76r-80v), không ghi tên người soạn và ngày tháng (theo thủ thư kho lưu trữ thì là 1648) có đính kèm 1 trang giấy bằng chữ Nôm, có phiên âm quốc ngữ và Latin do 14 thầy giảng ở Đàng Ngoài đồng ký tên.
Phần này bắt đầu như sau:
“nhân danh Cha và Con và Sư-phi-ri-tô Sang-tô. Ý này An-Nam các bổn đạo thì tính rằng ra ba danh, ví bằng muốn ý làm một thì phải nói: nhân nhất danh Cha, v.v. Tôi là Giu-ong Cây Trâm cũng nghĩ vậy. Tôi là An-rê Sen cũng nghĩ vậy. Tôi là Bên-tô Văn Triển ...”
Với sự đồng thuận của các tín hữu Việt Nam, công thức rửa tội nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa đã được chuẩn hoá từ đó về sau như được xác nhận trong lá thư của thừa sai Marini năm 1654 (ảnh 2)
Ai quan tâm có thể đọc thêm các tác phẩm của cố linh mục Đỗ Quang Chính bàn về chuyện này
—-
Ảnh 1: Lời chứng của các tín hữu Việt Nam 1648 (ARSI, Jap-Sin 80, tờ 79)
Ảnh 2: Báo cáo của Philippus Marini năm 1654 (ARSI, Jap-Sin 80, tờ 86v)

