Chữ Nôm Công Giáo trên văn bia Hậu vùng Bắc Bộ Việt Nam

 Một số thông tin có liên quan tới chữ Nôm Công Giáo, trích từ tác phẩm "Nghiên cứu chữ Nôm trên văn bia Hậu vùng Bắc Bộ Việt Nam" của tác giả Đỗ Thị Bích Tuyển, được đăng trên trang Vietnamica: https://revues.vietnamica.online/publications.../vi/book36/










Vinh Danh Thiên Chúa Trên Trời...

 Giới Thiệu Đặc Biệt Trong Mùa Vọng 2025

Kính mời qúy vị Cùng Học Chữ Nôm Công Giáo qua Phương Pháp Phân Tích Cấu Tạo Đơn Tự Nôm.

“Sắc lệnh” thiết lập nhà thờ Đức Bà Lên Trời làng Thạch Bi vào thế kỷ 19 ở Địa phận Trung (Bùi Chu hiện nay)

 



Thêm một “sắc lệnh” thiết lập một nhà thờ Công giáo thế kỷ 19 ở Địa phận Trung (Bùi Chu hiện nay), lưu giữ
Bản phiên âm xin ghi lại theo từng cột từ phải qua trái (đã được Lê Hà hiệu đính)
1 Nhân danh Đức Chúa Trời. A-men
2 Pha-tê-r [1] Pha-ra-tê-r [2] Mạc-si-mua/mo Phê-r-nan-đô [3] dòng ông thánh Đô/Do-
3 minh-gô [4] ơn Đức Chúa Trời và ơn Đức Thánh Pha-pha [5] Vít vồ [6] “Áp-xô-phô-li-ta-nô” (??) [7] và
4 Vi-ca-ri-ô A-phô-xút-tô-li-cô [8] Địa phận Trung trong nước An Nam. Xin cho các
5 kẻ xem tờ này được bình yên
cùng làm phép Ben-song [9] cho được mọi sự lành.
6 Vốn thói lành các nước có đạo bên phương Tây đã quen chọn lấy Đức Chúa Giê-su, Đức Bà hay là ông thánh bà thánh
7 nào làm quan thầy riêng trong nhà trong nước trong thành trong làng cùng trong nhà thánh ấy mà có
8 ý cậy công nghiệp và lời các thánh kêu van bàu cử trước mặt Đức Chúa Trời cho ta khi
9 còn sống ở đời này được bắt chước việc lành các thánh biết đường giữ đạo nên được bình yên
10 phần hồn phần xác đời này và đời sau cùng đã nên thói lành trong thánh I-ghê-rê-xa [10]
11 vậy. Thầy cũng ước ao cho bổn đạo ta được bắt chước như thể ấy mà đương khi ước ao
12 làm vậy thì xảy thấy bổn đạo làng Thạch Bi là con chiên địa phận thầy có nhiều kẻ muốn
13 hợp một ý cùng nhau cho được giúp đỡ nhau phần hồn phần xác mà chọn lấy Đức Bà
14 lên trời làm quan thầy riêng mình cho nên xin thầy cho được lập ra một họ gọi là họ
15 Đức Bà lên trời thì lòng thầy mừng rỡ bội phần cùng cho lập như vậy. Và truyền cho
16 thầy cả đương coi sóc địa phận này rày cùng các thầy cả sẽ coi sóc sau này phải ra
17 sức coi sóc họ này cho một ngày một đi đàng nhân đức hơn nữa. Song le việc chung phải
18 có kẻ cai quản và có thứ tự cùng lề luật phép tắc cho nghiêm trang mới được tốt lành
19 cho nên các kẻ ăn mày thông công trong họ này phải ra sức giữ những điều đã chép trong
19 sách lề luật về họ này thì mới trông cho được vững vàng chắc chắn mà chớ
20 nhân danh Cha và Con và Phi-ri-tô Sang-tô [11]. Amen
21 mà cho ai nấy được lấy làm chắc chắn thì thầy đã đóng con chấm cùng phê tên thầy và tên ký lục thầy trong tờ này
22 từ
23 Đức Chúa Giê-su ra đời là một nghìn chín trăm x x. năm.
—-
Chú Thích về các phiên âm Nôm trong bản gốc
[1] nguyên văn: Pha-tê-r, phiên âm từ chữ Pater (cha)
[2] Pha-ra-tê-r, phiên âm từ chữ Frater (anh em, cách tu sĩ gọi nhau)
[3] Mạc-si-mua/mo Phê-r-nan-đô = Maximo Fernandez, tên Việt là Định, giám mục quản nhiệm địa phận tông tòa Trung Đàng Ngoài, 1898-1907.
[4] Dòng ông thánh Do/Đô-minh-cô/gô bây giờ gọi là dòng Đa Minh hay dòng Anh em Thuyết giáo (OP).
[5] Đức Thánh Pha-Pha, gốc từ chữ Papa (tên thân mật gọi Đức giáo hoàng)
[6] Nguyên văn chỉ ghi Vít-vồ, gốc từ chữ obispo (giám mục), không có chữ “hiệu toà”, nhưng trước năm 1960, các giám mục đóng vai trò giám quản tông tòa (đại diện giáo hoàng để cai quản) nên tất cả là hiệu tòa (lấy danh nghĩa một tòa giám mục cổ xưa ở Tiểu Á hoặc Bắc Phi không còn tồn tại).
[7] (?) theo sử liệu thì ngài là giám mục hiệu tòa của Attuda.
[8] Vi-ca-ri-ô A-phô-xút-tô-li-cô, phiên âm từ chữ Vicarius Apostolicus (giám quản tông tòa, giám mục đại diện tông tòa)
[9] Phép Ben-song, từ chữ bencaõ tiếng Bồ (phép lành)
[10] Y-ghê-rê-xa, phiên âm từ Ireja hoặc Iglesia, ngày nay gọi là giáo hội
[11] Phi-ri-tô Săng-tô, phiên âm từ tiếng Bồ Spirito Santo (Chúa Thánh Thần)
Ảnh tư liệu do bạn Mai Nguyễn cung cấp

“Sắc lệnh” thiết lập nhà thờ thánh Giuse tại Quần Anh, địa phận Trung (Bùi Chu)

 


Đây là một “sắc lệnh” thiết lập một nhà thờ Công giáo thế kỷ 19 ở Địa phận Trung (Bùi Chu hiện nay), lưu giữ ở Giáo họ Phương Đức— Giáo xứ Triệu Thông (Yên Định-Hải Hậu-Nam Định).
Trong bản văn gốc có khá nhiều từ phiên âm, cần chú thích mới hiểu. Một điều khá thú vị là các cụ chế đã chế ra một ký tự riêng để phiên âm chữ r ở cuối âm tiết
Bản phiên âm xin ghi lại theo từng cột từ phải qua trái
1. Nhân danh Đức Chúa Trời. A-men
2. Pha-tê-r [1] Pha-ra-tê-r [2] Ba-na-bê Ga-r-thi-a Lô-xôn [3] Khang,
3. dòng ông thánh Đô-minh-gô [4] ơn Đức Chúa Trời và ơn Đức Thánh Pha-pha [5] Vít
4. vồ [6] Bi-phi-li-én-xây [7] và Vi-ca-ri-ô A-phô-xút-tô-li-cô [8]
5. Địa phận Trung trong nước A Nam. Xin cho các kẻ xem tờ này được bình yên
6. cùng làm phép Biên-song [9] cho được mọi sự lành.
7. Vậy thầy dùng phép tòa thánh A-phô-xút-tô-li-ca [10] thông cho mà lấy họ
8. ông thánh Giu-se, này đã lập ngày xưa trong nhà thờ làng Quần Anh hạ này
9. làm vững vàng chắc chắn và gọi là nhà thờ ông thánh Giu-se cùng truyền
10. cho thầy cả đương coi sóc địa phận rày và các thầy cả sẽ coi sóc
11. sau này phải ra sức coi sóc họ này cho một ngày một đi đường nhân đức
12. hơn nữa song le việc chung phải có kẻ cai quản và có thứ tự cùng có
13. lề luật phép tắc cho nghiêm trang mới được tốt lành cho nên các kẻ ăn mày
14. thông công trong họ này phải ra sức giữ những điều đã chép trong sách lề luật
15. về họ này thì mới trông cho được vững vàng chắc chắn mà chớ.
16. Nhân danh Cha và Con và Phi-ri-tô Sang-tô [11]. Amen.
17. mà cho ai nấy được lấy làm chắc chắn thì thầy đã đóng  con chấm cùng phê
18. tên thầy và tên ký lục thầy trong tờ này
19. Từ
20. Đức Chúa Giê-su ra đời là một nghìn tám trăm sáu mươi sáu năm.
—-
Bản dịch của nhóm Thiên Hùng Sử Bùi Chu.
Có nhiều chữ phiên âm trong mà bản dịch đã diễn nghĩa nên tôi thêm chú thích để các bạn yêu thích Hán Nôm có thể xem.
NHÂN DANH ĐỨC CHÚA TRỜI. AMEN.
Linh mục [1] tu sĩ [2] Barnabe Garcia Cezon Khang, [3] OP [4]
Nhờ ơn Thiên Chúa và ơn Đức Giáo Hoàng [5] Làm Giám mục hiệu toà [6] Byblus [7]
Cùng làm Giám mục hạt đại diện Tông tòa [8] Trung Đàng Ngoài (Địa phận Trung) trong nước Annam
Xin cầu cho kẻ đang xem tờ này được bình yên cùng ban phép lành [9] Giám mục cho kẻ ấy nữa.
Vậy thầy dùng quyền Tông Tòa [10] của mình đã được truyền cho.
Mà lấy họ ông thánh Giuse đã lập từ trước trong làng Quần Anh hạ này. Làm nên một nhà thờ vững vàng chắc chắn, gọi là Nhà thờ ông thánh Giuse.
Thầy cũng truyền cho các linh mục đang coi sóc địa phận xứ (tức Quần Phương).
Cùng các linh mục sẽ coi sóc trong tương lai, từ rày phải ra sức coi sóc họ này sao cho giáo dân trong họ này càng ngày càng tiến nhân đức hơn nữa.
Song việc chung của họ giáo phải có người cai quản, phải có thứ tự, phải có lễ luật phép tắc cho nghiêm trang thì mọi việc mới tốt lành được.
Vậy các giáo hữu trong họ là người chịu các phép đạo Thánh, cùng hiệp thông với Hội Thánh, thì phải ra sức giữ những điều thầy sắc lệ luật phép tắc Hội Thánh.
Thầy rất mong vâng bậc chăn chiên giáo hữu mình.
NHÂN DANH CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN [11]. AMEN.
Vậy để mọi người bảo đảm, thì thầy sẽ đóng dấu trên thư này, cùng ký tên mình, và của thầy linh mục thư ký của thầy nữa.
Làm vào năm Chúa Giáng sinh 1866.
[đóng dấu và ký tên
Barnabe Cezon Đức Thầy Khang O.P.
Giám mục Đại diện Tông Tòa
Dominicus Cụ Quản
Thư ký]
—-
Chú Thích về các phiên âm Nôm trong bản gốc
[1] nguyên văn: Pha-tê-r, phiên âm từ chữ Pater (cha)
[2] Pha-ra-tê-r, phiên âm từ chữ Frater (anh em, cách tu sĩ gọi nhau)
[3] Ba-na-bê Ga-r-thi-a Lô-xôn Khang = Berbabe Garcia Cezon, tên Việt là Khang, giám mục quản nhiệm địa phận tông tòa Trung Đàng Ngoài, 1864-1879.
[4] Dòng ông thánh Do/Đô-minh-cô/gô bây giờ gọi là dòng Đa Minh hay dòng Anh em Thuyết giáo (OP).
[5] Đức Thánh Pha-Pha, gốc từ chữ Papa (tên thân mật gọi Đức giáo hoàng)
[6] Nguyên văn chỉ ghi Vít-vồ, gốc từ chữ obispo (giám mục), không có chữ “hiệu toà”, nhưng trước năm 1960, các giám mục đóng vai trò giám quản tông tòa (đại diện giáo hoàng để cai quản) nên tất cả là hiệu tòa (lấy danh nghĩa một tòa giám mục cổ xưa ở Tiểu Á hoặc Bắc Phi không còn tồn tại).
[7] Bi-phi-li-én-xây (Byblus)
[8] Vi-ca-ri-ô A-phô-xút-tô-li-cô, phiên âm từ chữ Vicarius Apostolico (giám quản tông tòa, giám mục đại diện tông tòa)
[9] Phép Biên-song, từ chữ bencaõ tiếng Bồ (phép lành)
[10] A-phô-xút-tô-li-ca, phiên âm từ chữ Apostolica (thuộc về thẩm quyền Toà Thánh)
[11] Phi-ri-tô Săng-tô, phiên âm từ tiếng Bồ Spirito Santo (Chúa Thánh Thần)

Nguồn: FB Anh Q Tran


Hai cách phiên âm chữ "Apostolico"

 Nhân tìm hiểu về cách phiên âm chữ Apostolico, tôi tìm thấy hai cách viết chữ Nôm cùng với hai cách phiên âm sau đây trong sách "Cải táng hài cốt các Đấng tử đạo tại hai giáo xứ Trung Thành và Hưng Nghĩa giáo phận Bùi Chu" như sau:








Nguồn: FB Kinh Việt 


Chứng thư tại nhà thờ họ Phú An năm 1910

 


1 Nhân danh Đức Chúa Trời. A Men.
2 Tôi là thầy cả Đô Minh Gô Quí đang coi sóc xứ Liên Thuỷ đã được phép
3 Đức Thầy Trung Vi Ca Ri Ô A Phô Xôn To Li Cô Địa Phận Trung trong
4 Nước An Nam ban cho (...) Mình Thánh Đức Chúa Giê Su trong
5 Nhà thờ Ông Thánh Giu A Kinh Họ Phú An Hằng Năm Khi Lễ Quan Thầy
6 và khi Làm Phúc Vì Vậy Ngày Mười Bảy Tháng Bảy Năm Canh Tuất là ngày
7 lễ quan thầy họ ấy thì đã để
8 Mình Thánh tại Nhà thờ này lần trước hết mà cũng đã có trùm trưởng làm chứng nữa
9 Nhân Danh Cha Và Con Và Phi Ri Tô Săng Tô. A Men.
10. Mà cho ai nấy được lấy làm chắc chắn thì cụ đã đóng con chấm cùng phê
11. tên cụ vào tờ này.
12. Từ
13. Đức Chúa Giê Su ra đời là một ngàn chín trăm mười (1910) năm.


Ảnh của Địch Dzuy Khôi, bản phiên âm của  Nguyễn Thanh Gia Huy

Nguồn: https://www.facebook.com/groups/474183959420147/user/100004051788950?locale=vi_VN

Bài văn khắc trên bia đá ghi sự tích Lm. Inhaxiô Nguyễn Ngọc Tuyên

 



Bản nguyên văn - phiên âm - dịch nghĩa của NTS:


- Nguyên văn:

降生壹千玖百壹年零
恭誌
聖號衣那吹烏靈牧,兼參辦閣臣阮大人
貫輔越社,繄自幼年,超乎凢世,托俗童身,妙金鎚玉琢之雅化,捿身修院,學先師往聖之格言。於嗣德年間,奉隨鑒官,適於西土,該國音字老通,羅星聖史閑習,侯從鑒官,直到鱸瑪城殿,伏謁教皇,面見,躡歸葩𱓜省城。降生一千八百六拾五年,職封聖爵,正權,居在法國年零,返迴本國,正意遵講聖教,接皇帝旨,欽領參辨閣臣,政行,國君愛慕。數年之後,奏請辭職,告退原銜,講蒞教人。適咸宜元年七月,匪徒扇亂,擾害教人,遇匪致命,至於楊祿教堂。
鳴呼!遭彼運屯,嗟呼及矣,謹以牌誌。
成泰拾叁年陸月初捌日,歲次辛丑造。
右輔越社參辨閣臣阮之牌
靈牧江包卑吹些學
靈牧𠀧蘇盧迷烏仁
靈牧茱移權仝謹誌。

- Phiên âm:

Giáng sinh nhất thiên cửu bách nhất niên linh
Cung chí
Thánh hiệu Y na xuy ô Linh mục, kiêm Tham biện các thần Nguyễn đại nhân
Quán Phụ Việt xã, ê tự ấu niên, siêu hồ phàm thế, thác tục đồng thân, diệu kim chùy ngọc trác chi nhã hóa, tê thân tu viện, học tiên sư vãng thanh chi cách ngôn. Ư Tự Đức niên gian, phụng tùy Giám quan thích ư Tây thổ, cai quốc âm tự lão thông, La tinh, thánh sử nhàn tập, hậu tòng Giám quan, trực đáo Lư Mã thành điện, phục yết giáo hoàng, diện kiến, niếp quy Ba Đông tỉnh thành. Giáng sinh nhất thiên bát bách lục thập ngũ niên, chức phong thánh tước chính quyền, cư tại Pháp quốc niên linh, phản hồi bản quốc, chính ý tôn giảng thánh giáo, tiếp hoàng đế chỉ, khâm lĩnh Tham biện các thần, chính hành, quốc quân ái mộ. Số niên chi hậu, tấu thỉnh từ chức, cáo thối nguyên hàm, giảng lị giáo nhân. Thích Hàm Nghi nguyên niên thất nguyệt, phỉ đồ phiến loạn, nhiễu hại giáo nhân, ngộ phỉ trí mệnh, chí ư Dương Lộc giáo đường.
Ô hô! Tao bỉ vận truân, ta hô cập hĩ, cẩn dĩ bài chí.
Thành Thái thập tam niên lục nguyệt sơ bát nhật, tuế thứ Tân Sửu tạo
Hữu Phụ Việt xã Tham biện các thần Nguyễn chi bài
Linh mục Giang bao ti xuy ta Học
Linh mục Ba tô lô mê ô Nhân
Linh mục Chu di Quyền đồng cẩn chí


- Dịch nghĩa:

Năm Thiên Chúa giáng sinh 1901,
Kính ghi

Linh mục Thánh hiệu Y Na Xuy Ô (Inhaxiô), kiêm chức Tham biện các thần Nguyễn đại nhân

Quê quán xã Phụ Việt, từ nhỏ đã siêu vượt thế tục, gửi thân đồng tử, khéo xây nền giáo hóa thanh nhã như dùi vàng mài ngọc, ở tu viện học tập lời răn của bậc tiên sư, vãng thánh. Niên hiệu Tự Đức, phụng mệnh theo quan Giám mục sang phương Tây, thông thạo tiếng nói, chữ viết nước ấy, lại học làu chữ La tinh cùng Thánh sử, sau theo quan Giám mục thẳng đến điện thành La Mã, yết kiến Giáo hoàng, được ngài gặp mặt, rồi trở về tỉnh thành Ba Đông (?). Năm 1865, [ngài] thụ phong Linh mục, ở Pháp mấy năm, rồi trở về nước, chuyên tâm giảng dạy thánh giáo. Tiếp thánh chỉ của Hoàng đế, ngài khâm lĩnh chức Tham biện các thần, thi hành chính sự, được vua yêu mến. Sau vài năm, ngài tấu xin từ chức, lui về làm chức cũ, giảng dạy khắp giáo dân. Tháng 7 năm Hàm Nghi thứ nhất, giặc cướp làm loạn, quấy nhiễu, giết hại giáo dân, ngài bị giặc giết ở giáo đường Dương Lộc.

Than ôi! Gặp phải buổi vận gian truân, việc đã thế ấy [biết phải làm sao]! Nay kính cẩn ghi lại sự tích.

Lập ngày mùng 8 tháng 6 năm Thành Thái thứ 13 (1901), tức năm Tân Sửu

Bài vị của Tham biện các thần họ Nguyễn, người xã Phụ Việt
Linh mục Giang bao ti xuy ta (Gioan Baotixita) Học
Linh mục Ba tô lô mê ô (Phêrô) Nhân
Linh mục Chu di (Giuse) Quyền cùng kính ghi.


+++

Bài viết của GS Nguyễn Lý Tưởng:

BÀI VĂN KHẮC TRÊN BIA ĐÁ GHI SỰ TÍCH LM INHAXIÔ NGUYỄN NGỌC TUYÊN
tử đạo tại Dương Lộc, Quảng Trị ngày 8/9/1882 do ba người học trò của ngài là Gioan Baotixita Ngô Văn Học, Batôlômêô Nguyễn Phùng Nhơn và Giuse Nguyễn Ngọc Quyền phụng lập năm 1901. (GS Nguyễn Lý-Tưởng dịch từ Hán văn ra tiếng Việt.)

Phiên âm Hán văn:

“Giáng Sinh nhất thiên cửu bách linh nhất. Cung chí, Thánh hiệu Inhaxiô Linh Mục kiêm Tham Biện các, quán Phụ Việt xã, ế tự ấu thời siêu hồ phàm thế, thác tục đồng thân, diệu kim trùy ngọc, trác chi nhã hóa, nõa thân tu viện học tiên sư Kinh Thánh chi cách ngôn. Ư Tự Đức niên gian, phụng tùy Giám quan chu ư Tây thổ, cai quốc âm tự, lão thông La tinh, thánh sử nhàn tập, hậu tùng Giám quan trực đáo La Mã thành điện, phục yết Giáo Hoàng diện kiến, nhiếp quy Ba Năng tỉnh thành. Giáng Sinh nhất thiên bát bách lục thập ngũ niên chức phong thánh tước, chính quyền. Cư tại Pháp quốc linh niên, hồi bản quốc, chính ý tôn giảng Thánh giáo, tiếp Hoàng đế chi chiếu khâm lãnh Tham biện các thấn, chính hành, quốc quân ái mộ. Sổ niên chi hậu, tấu thỉnh từ chức, cáo thối, nguyên thuật giảng lỵ giáo dân thích. Hàm Nghi nguyên niên, thất nguyệt, phỉ đồ phiến loạn, nhiễu hại giáo dân, ngộ phỉ trí mạng chí vu Dương Lộc giáo đường.
“Ô hô! Tao bỉ vận truân, ta hồ cập hỉ, cẩn dĩ bi chí.
Thành Thái thập tam niên, lục nguyệt, sơ bát nhật, tuế thứ Tân Sửu, tạo chi.
Hữu Phụ Việt xã, Tham Biện các thần Nguyễn.
Linh Mục Gioan Baotixita Học
Linh Mục Batôlômêô Nhơn
Linh Mục Giuse Quyền

Dịch nghĩa:

“Năm Thiên Chúa giáng sinh 1901, nay cung kính ghi chép vào bia đá như sau:
Linh Mục Inhaxiô kiêm chức tham Biện, quê quán ở xã Phụ Việt (hữu), tỉnh Quảng Bình, từ nhỏ đã là người siêu phàm, sớm bỏ đời đi tu, mài vàng dũa ngọc được nên tốt đẹp, uốn nắn thân mình ở chốn tu viện để học Kinh Thánh với các bậc tiên sư.

“Dưới thời Tự Đức, theo Giám Mục đi qua Tây, am hiểu quốc âm (Hán tự), làu thông La tinh, thường lúc nhàn rỗi thì học Kinh Thánh. Ngài theo Giám Mục đến thành La Mã, yết kiến Đức Giáo Hoàng, sau đó trở về Pe năng (Mã Lai). Năm 1865 (1) chính thức thọ phong Linh Mục, ở tại Pháp mấy năm rồi trở về nước lo giảng dạy đạo Thánh. Nhận được chiếu chỉ của Hoàng đế, lãnh chức Tham Biện, thi hành chính trị được vua ái mộ. Mấy năm sau, xin từ chức, trở về lo việc đạo, được giáo dân quý mến. Tháng Bảy, Hàm Nghi Nguyên niên (1885) bọn giặc cướp nổi loạn, nhiễu hại giáo dân, ngài bị giặc giết tại nhà thờ Dương Lộc.

“Than ôi! Bởi gặp vận xấu nên phải gian truân! Vậy kính cẩn ghi chép lại sự tích.
Năm Thành Thái thứ 13 tháng 6 ngày 8 tức năm Tân Sửu (1901) làm bia nầy.
Các học trò của quan Tham Biện họ Nguyễn, người xã Phụ Việt (hữu) là:
Linh Mục Gioan Baotixita Học
Linh Mục Babôlômêô Nhơn
Linh Mục Giuse Quyền
Đồng lập bia nầy.

(Chú thích: Theo theo tài liệu chính thức của Giáo phận Huế: Cha Nguyễn Ngọc Tuyên chịu chức Linh Mục vào ngày 17/2/1864 tại Đại chủng viện Mans (Pháp), về Huế năm 1865. Văn bia ghi ngài chịu chức Linh Mục năm 1865 là không đúng. Theo văn bia ghi Cha Tuyên bị quân Văn Thân giết vào tháng 7 âm lịch, chính xác là ngày 8 tháng 9 năm 1885)

- Ảnh: Dương Thanh Đạt

Thư của thầy Xi-mong Tú viết từ Tonkin ngày 7 tháng 10 năm 1673

 





Nguồn Arsi-Japsin 81, fol 035a-036

- Bản phiên âm từ FB Lê Minh Khiêm (có sửa đổi đôi chút)

Lạy ơn Đức Chúa Trời ba ngôi cùng rất thánh Đức Chúa Bà Ma-ri-a. Tôi là Xi-mong Tú, thông công xứ Huế cùng xứ Quảng lâu năm, tôi có giúp việc các đức thầy cả dòng Đức Chúa Giê-su. Cho đến ngày rày tôi hãy còn theo dòng này mà làm việc Chúa, giúp đức thầy cả Bát-Tô-Lô-Miêu hơn ba năm nay. Năm ngoái đức thầy cả Bát-Tô-Lô-Miêu có trẩy vào Quảng cùng trẩy vào phủ mới, tôi có trẩy cùng ngài một thuyền, cùng ở một cửa, một nhà. Đến ngày trẩy ra, tôi lại trẩy theo cùng đức thầy vào cửa Phú Yên mà viếng anh em xứ ấy. Đoạn thì ra phố Nhật Bổn mà dồn trẩy Huế. Đến ngoài Huế thì ra xứ Dinh Cát mà đi viếng anh em khắp mọi nơi. Nơi nào có nhiều bổn đạo thì đức thầy ở lại ba bốn ngày, nơi nào ít thì ở một hai ngày nghe tội anh em cho đến sáng ngày, ba bốn đêm nào có biết ngủ đâu. Ban ngày nghỉ chẳng được thư thả việc anh em, ban đêm lại thức cho được làm việc cho anh em. Kẻ thì xưng tội mà rước Mình Chúa, kẻ thì chịu phép rửa tội, kẻ thì xức dầu thánh. Tôi bấy nhiêu năm theo đức thầy giúp làm việc Đức Chúa Trời, chẳng thấy khi nào đức thầy có mất lòng ai hay là làm sự chi trái lẽ cho nên người ta trách được. Đức thầy có một, hiền lành, năng nổ mọi việc Đức Chúa Trời, cho nên những kẻ suy lấy mà biết giữ đạo thánh Đức Chúa Trời thì hết lòng hết sức và ... và kính đức thầy Bát-Tô-Lô-Miêu, ấy là sự ... ... nên tôi dám lấy tên Đức Chúa Trời mà thề rằng ví dầu bấy nhiêu sự tôi chẳng ... ... Đức Chúa Trời ... ... Mà tôi nói thật thì Đức Chúa Trời phạt kẻ bỏ vạ cáo gian đức thầy cả Bát-Tô-Lô-Miêu. Bấy nhiêu sự tôi viết để cho các đức thầy cả cùng bổn đạo hay. Tôi lại xin các đức thầy cả cùng bổn đạo cầu xin cùng Chúa giúp sức cho tôi giữ đạo cho trọn, ngày sau được hưởng phúc cùng Chúa trên thiên đàng đời đời kiếp kiếp. A-men!

Từ Thiên Chúa giáng sinh chí Quý Sửu niên đắc nhất thiên lục bách thất thập tam niên thập nguyệt sơ thất nhật.


Hang núi "Hiển Tàng Phong" trong quần thể nhà thờ Phát Diệm

 







Hình ảnh quý vị đang thấy là một trong ba hang núi đá ở Phát Diệm, được thực hiện vào năm 1875, và được xem là phẩm đầu tay của Cụ Sáu Trần Lục. Theo truyền lại, hang này được xây để thử độ lún của đất trước khi khởi công các công trình lớn sau đó.
Hang từng được gọi là “hang táng xác”, vì mỗi mùa Tuần Thánh, Cụ Sáu thường tổ chức đóng cảnh Táng Xác Chúa ngay trong hang. Về sau, hang lại được gọi là “hang sinh nhật”, bởi suốt nhiều năm qua, vào dịp Giáng Sinh, nơi đây thường được đặt cảnh hang đá Giáng Sinh.
Đáng tiếc, vào ngày 15.08.1972, một quả bom rơi xuống sát bên hang, khiến kết cấu đá bị sập. Từ đó, hang núi để cỏ mọc um tùm, ít người lui tới do lo ngại nguy hiểm.
Năm nay, năm thánh hy vọng, cũng là dịp 200 năm sinh nhật Cụ Sáu, và 150 năm kể từ ngày hang được dựng, TGM cho trùng tu, khi các thợ đá tiến hành xếp lại đá, bất ngờ phát hiện ba đại tự khắc trên đá, bị vùi lấp và vỡ gãy trong đống đổ nát. Khi ghép lại, ba chữ hiện rõ: 顕藏峯 – đọc là Hiển Tàng Phong.
CHIẾT TỰ VÀ Ý NGHĨA:
  1. 顕 (hiển) – hiện ra, tỏ rõ
    Chữ gồm bộ  (hiệt – đầu người) và chữ  (người tài). Mang nghĩa: vinh hiển, lộ ra điều vốn tiềm ẩn.
  2. 藏 (tàng) – cất giấu, kho tàng
    Gồm  (thảo) và  (tốt lành). Ý chỉ những điều quý giá, được gìn giữ kín đáo trong lòng.
  3. 峯 (phong) – đỉnh núi
    Là biến thể của chữ , gồm bộ  (núi) và phần âm , nghĩa là đỉnh cao nơi tụ hội.
TỔNG NGHĨA:
“Hiển Tàng Phong” – Ngọn núi nơi điều ẩn giấu được hiển lộ.
Cái tên như một mạc khải ngầm, chất chứa chiều sâu đức tin: nơi hang đá âm thầm ẩn khuất suốt bao năm, giờ hiện lộ kho tàng thiêng liêng, đúng vào dịp tưởng nhớ Cụ Sáu – người đã “gieo mầm đá sống” trên mảnh đất này. Nếu có dịp vào thăm trong hang, du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng vì, nhìn bề ngoài có vẻ rất bình thường, nhưng bên trong quả thực có rất nhiều hang nhũ rất đẹp như hang thiên tạo.

- Trích từ FB Đình Chẩn: 

 https://www.facebook.com/groups/1982793429155285/permalink/2080158866085407/?rdid=VcV2ywOXGgW5fM1x#