Về tên thánh Du-minh-gô, thánh Tổ phụ dòng Đa Minh

 


Tấm gạch có khắc tên:
Thánh hiệu Du-minh-gô Thường tử vì đạo

CÁCH VIẾT TÊN THÁNH TỔ PHỤ

Thánh Tổ Phụ ĐA MINH là người Tây Ban Nha, Ngài được thân sinh đặt tên theo tiếng Tây Ban Nha là Domingo. Tiếng La Tinh là Dominicus nghĩa là người thuộc về Chúa. Khi các bậc tiền bối của Dòng đặt chân lên đất Việt, các ngài muốn hội nhập đời sống của Dòng vào nền văn hóa của dân tộc Việt. Vì thế, trên bình diện ngôn ngữ :

1.Các ngài đã phiên âm tên thánh Tổ Phụ thành từng âm tiết rời cho dễ đọc, vì Tiếng Việt là một thứ tiếng “đơn tiết tính”. Tên Tây Ban Nha của Thánh Tổ Phụ là Domingo được phiên âm là Du-min-gô; tên La Tinh là Dominicus thì phiên âm là Đô-mi-ni-cô.

2.Nhưng ở trong tiếng Việt, mỗi âm tiết = với một từ, âm tiết tiếng nước ngoài thì không có nghĩa vì chỉ là đơn vị phát âm, nhưng âm tiết = từ trong tiếng Việt thì có nghĩa như một từ của các tiếng Tây khác. Nếu chỉ phiên âm tên thánh Tổ Phụ thành “Du-minh-gô” hay “Đô-mi-ni-cô” thì quả là chưa thực sự hội nhập vào nền văn hóa Việt Nam, tên gọi của Thánh Tổ Phụ chưa trở thành “từ tiếng Việt”. Chính vì thế mà phải tiến tới bước thứ hai, là sau khi phiên âm, ta phải cho mỗi âm ấy một nghĩa. Đa Minh là tên của thánh tổ phụ được phiên âm ra tiếng Tàu nhưng đọc theo giọng Hán Việt. Người Tàu phiên âm tên riêng Dominic là 多米 [duōmǐ], Hán Việt đọc là Đa Minh. Sau khi mượn âm, đến bước tiếp theo là mượn nghĩa, để từ phiên âm ấy thự sự trở thành từ Hán Việt, hội nhập vào lớp từ tiếng Việt.

Tương truyền rằng khi thân mẫu Thánh Tổ Phụ mang thai thánh Đa Minh, thì bà đã chiêm bao thấy hình ảnh “Con chó ngậm bó đuốc chạy khắp hòan cầu”. Với ý nghĩa của hình ảnh này, các bậc tiền bối của Dòng đã chuyển âm tên gọi thánh Tổ Phụ thành Đa Minh. (Ta hiểu nôm na : “Đa” là nhiều, “Minh” là ánh sáng từ trên ban xuống). Khi chuyển như vậy phần nào giữ được âm gần giống âm gốc, nghĩa cũng có nét nào đó liên quan đến cuộc đời và tên gọi của thánh Tổ Phụ. Và việc phiên âm đạt đến đích của nó.

3.Tiếng Việt hiện nay quy định, tên riêng của một người thì phải viết hoa mọi chữ cái đầu, hoặc viết in hoa hết mọi chữ, vì thế tên thánh Tổ Phụ theo tiếng Việt sẽ chỉ được viết là “Đa Minh” hoặc “ĐA MINH”. 

-  Ảnh của Địch Dzuy Khôi

Nguyễn Thụy Đan, nhà nghiên cứu Hán Nôm và lịch sử Đông Á

 


Nguyễn Thụy Đan là nhà thơ và nghiên cứu sinh ngành lịch sử Đông Á tại Đại học Columbia, lớn lên trong môi trường Âu Mỹ nhưng dành trọn đam mê cho Hán Nôm và lịch sử tư tưởng Việt Nam

***

Sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ, Nguyễn Thụy Đan sớm bộc lộ niềm say mê với Hán Nôm và văn chương. Dù không rõ nguồn cơn cụ thể, anh nhớ về những dấu mốc đầu tiên khi tiếp cận cổ ngữ. Lần đầu đặt chân đến Việt Nam ở tuổi 12, anh háo hức nhờ họ hàng tìm thầy dạy chữ Nôm, nhưng không thành. Thay vào đó, anh bắt đầu tiếp cận thông qua hai cuốn tự điển chữ Nôm và Hán Việt của Thiều Chửu. Năm 15 tuổi, trong một mùa hè về Việt Nam giúp việc các dì dòng Đức Bà Truyền Giáo, anh tình cờ được một bà soeur lớn tuổi giới thiệu những bài thơ Đường, mở ra thế giới văn chương mà anh gắn bó đến hôm nay.

Với Nguyễn Thụy Đan, việc tự học Hán Nôm không phải là một thành tích để tự hào hay khoe khoang, mà đơn giản là một phản ứng tự nhiên trước hoàn cảnh. Hiện là nghiên cứu sinh ngành lịch sử Đông Á tại Đại học Columbia theo diện học bổng, anh tập trung nghiên cứu về diễn ngôn và văn hóa sĩ phu cuối thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 19. Đồng thời, anh giảng dạy với vai trò trợ giảng tại Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Á của trường. Bên cạnh công việc nghiên cứu, Nguyễn Thụy Đan còn là một nhà thơ. Năm 2024, tập thơ đầu tay của anh viết bằng tiếng Việt, in illo tempore, được Nhà xuất bản Thanh Niên và FORMApubli ấn hành tại Việt Nam.


Chào Thụy Đan! Anh có nhớ cuốn sách tiếng Việt đầu tiên mình đọc không, và nó đã ảnh hưởng như thế nào đến tiến trình tìm hiểu chữ Nôm của anh?

Tôi không nhớ chính xác, nhưng có lẽ đó là một trong hai cuốn Thánh Giáo Kinh Nguyện và Chân Lý Đời Đời. Thánh Giáo Kinh Nguyện là sách kinh của giáo phận Hà Nội, nhưng bản tôi đọc khi còn nhỏ là một ấn bản rất cũ, trong đó vẫn còn những lời cầu nguyện cho các bậc vua chúa và quan quyền cai trị nước An Nam. Còn Chân Lý Đời Đời là bản dịch từ trước tác của Alfonso Liguori – người sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế – với những suy niệm về sự ngắn ngủi và phù du của kiếp người, về cái chết, về sự thối rữa của xác thân… Câu trả lời này có lẽ hơi bất ngờ, nhưng nếu phân tích kỹ, tôi nhận ra mình đã chịu ảnh hưởng không ít từ những cuốn sách ấy. Ngay từ nhỏ, tôi đặc biệt thích lối văn nôm na trong các sách kinh Công giáo, tất nhiên là phong cách hành văn của thời trước, chứ không phải cách viết ngày nay. Có lẽ chính điều đó đã thôi thúc tôi tìm hiểu về chữ Nôm. Đọc nhiều sách như vậy cũng dần định hình cách tôi nhìn nhận và sử dụng tiếng Việt.

- Tác giả: Lê Lâm

Đọc toàn bộ bài viết theo đường dẫn:

https://www.tatlerasia.com/power-purpose/impact/nguyen-thuy-dan-researcher-of-han-nom-and-east-asian-history-vn


Chữ Nôm Công Giáo trên văn bia Hậu vùng Bắc Bộ Việt Nam

 Một số thông tin có liên quan tới chữ Nôm Công Giáo, trích từ tác phẩm "Nghiên cứu chữ Nôm trên văn bia Hậu vùng Bắc Bộ Việt Nam" của tác giả Đỗ Thị Bích Tuyển, được đăng trên trang Vietnamica: https://revues.vietnamica.online/publications.../vi/book36/










Vinh Danh Thiên Chúa Trên Trời...

 Giới Thiệu Đặc Biệt Trong Mùa Vọng 2025

Kính mời qúy vị Cùng Học Chữ Nôm Công Giáo qua Phương Pháp Phân Tích Cấu Tạo Đơn Tự Nôm.

“Sắc lệnh” thiết lập nhà thờ Đức Bà Lên Trời làng Thạch Bi vào thế kỷ 19 ở Địa phận Trung (Bùi Chu hiện nay)

 



Thêm một “sắc lệnh” thiết lập một nhà thờ Công giáo thế kỷ 19 ở Địa phận Trung (Bùi Chu hiện nay), lưu giữ
Bản phiên âm xin ghi lại theo từng cột từ phải qua trái (đã được Lê Hà hiệu đính)
1 Nhân danh Đức Chúa Trời. A-men
2 Pha-tê-r [1] Pha-ra-tê-r [2] Mạc-si-mua/mo Phê-r-nan-đô [3] dòng ông thánh Đô/Do-
3 minh-gô [4] ơn Đức Chúa Trời và ơn Đức Thánh Pha-pha [5] Vít vồ [6] “Áp-xô-phô-li-ta-nô” (??) [7] và
4 Vi-ca-ri-ô A-phô-xút-tô-li-cô [8] Địa phận Trung trong nước An Nam. Xin cho các
5 kẻ xem tờ này được bình yên
cùng làm phép Ben-song [9] cho được mọi sự lành.
6 Vốn thói lành các nước có đạo bên phương Tây đã quen chọn lấy Đức Chúa Giê-su, Đức Bà hay là ông thánh bà thánh
7 nào làm quan thầy riêng trong nhà trong nước trong thành trong làng cùng trong nhà thánh ấy mà có
8 ý cậy công nghiệp và lời các thánh kêu van bàu cử trước mặt Đức Chúa Trời cho ta khi
9 còn sống ở đời này được bắt chước việc lành các thánh biết đường giữ đạo nên được bình yên
10 phần hồn phần xác đời này và đời sau cùng đã nên thói lành trong thánh I-ghê-rê-xa [10]
11 vậy. Thầy cũng ước ao cho bổn đạo ta được bắt chước như thể ấy mà đương khi ước ao
12 làm vậy thì xảy thấy bổn đạo làng Thạch Bi là con chiên địa phận thầy có nhiều kẻ muốn
13 hợp một ý cùng nhau cho được giúp đỡ nhau phần hồn phần xác mà chọn lấy Đức Bà
14 lên trời làm quan thầy riêng mình cho nên xin thầy cho được lập ra một họ gọi là họ
15 Đức Bà lên trời thì lòng thầy mừng rỡ bội phần cùng cho lập như vậy. Và truyền cho
16 thầy cả đương coi sóc địa phận này rày cùng các thầy cả sẽ coi sóc sau này phải ra
17 sức coi sóc họ này cho một ngày một đi đàng nhân đức hơn nữa. Song le việc chung phải
18 có kẻ cai quản và có thứ tự cùng lề luật phép tắc cho nghiêm trang mới được tốt lành
19 cho nên các kẻ ăn mày thông công trong họ này phải ra sức giữ những điều đã chép trong
19 sách lề luật về họ này thì mới trông cho được vững vàng chắc chắn mà chớ
20 nhân danh Cha và Con và Phi-ri-tô Sang-tô [11]. Amen
21 mà cho ai nấy được lấy làm chắc chắn thì thầy đã đóng con chấm cùng phê tên thầy và tên ký lục thầy trong tờ này
22 từ
23 Đức Chúa Giê-su ra đời là một nghìn chín trăm x x. năm.
—-
Chú Thích về các phiên âm Nôm trong bản gốc
[1] nguyên văn: Pha-tê-r, phiên âm từ chữ Pater (cha)
[2] Pha-ra-tê-r, phiên âm từ chữ Frater (anh em, cách tu sĩ gọi nhau)
[3] Mạc-si-mua/mo Phê-r-nan-đô = Maximo Fernandez, tên Việt là Định, giám mục quản nhiệm địa phận tông tòa Trung Đàng Ngoài, 1898-1907.
[4] Dòng ông thánh Do/Đô-minh-cô/gô bây giờ gọi là dòng Đa Minh hay dòng Anh em Thuyết giáo (OP).
[5] Đức Thánh Pha-Pha, gốc từ chữ Papa (tên thân mật gọi Đức giáo hoàng)
[6] Nguyên văn chỉ ghi Vít-vồ, gốc từ chữ obispo (giám mục), không có chữ “hiệu toà”, nhưng trước năm 1960, các giám mục đóng vai trò giám quản tông tòa (đại diện giáo hoàng để cai quản) nên tất cả là hiệu tòa (lấy danh nghĩa một tòa giám mục cổ xưa ở Tiểu Á hoặc Bắc Phi không còn tồn tại).
[7] (?) theo sử liệu thì ngài là giám mục hiệu tòa của Attuda.
[8] Vi-ca-ri-ô A-phô-xút-tô-li-cô, phiên âm từ chữ Vicarius Apostolicus (giám quản tông tòa, giám mục đại diện tông tòa)
[9] Phép Ben-song, từ chữ bencaõ tiếng Bồ (phép lành)
[10] Y-ghê-rê-xa, phiên âm từ Ireja hoặc Iglesia, ngày nay gọi là giáo hội
[11] Phi-ri-tô Săng-tô, phiên âm từ tiếng Bồ Spirito Santo (Chúa Thánh Thần)
Ảnh tư liệu do bạn Mai Nguyễn cung cấp

“Sắc lệnh” thiết lập nhà thờ thánh Giuse tại Quần Anh, địa phận Trung (Bùi Chu)

 


Đây là một “sắc lệnh” thiết lập một nhà thờ Công giáo thế kỷ 19 ở Địa phận Trung (Bùi Chu hiện nay), lưu giữ ở Giáo họ Phương Đức— Giáo xứ Triệu Thông (Yên Định-Hải Hậu-Nam Định).
Trong bản văn gốc có khá nhiều từ phiên âm, cần chú thích mới hiểu. Một điều khá thú vị là các cụ chế đã chế ra một ký tự riêng để phiên âm chữ r ở cuối âm tiết
Bản phiên âm xin ghi lại theo từng cột từ phải qua trái
1. Nhân danh Đức Chúa Trời. A-men
2. Pha-tê-r [1] Pha-ra-tê-r [2] Ba-na-bê Ga-r-thi-a Lô-xôn [3] Khang,
3. dòng ông thánh Đô-minh-gô [4] ơn Đức Chúa Trời và ơn Đức Thánh Pha-pha [5] Vít
4. vồ [6] Bi-phi-li-én-xây [7] và Vi-ca-ri-ô A-phô-xút-tô-li-cô [8]
5. Địa phận Trung trong nước A Nam. Xin cho các kẻ xem tờ này được bình yên
6. cùng làm phép Biên-song [9] cho được mọi sự lành.
7. Vậy thầy dùng phép tòa thánh A-phô-xút-tô-li-ca [10] thông cho mà lấy họ
8. ông thánh Giu-se, này đã lập ngày xưa trong nhà thờ làng Quần Anh hạ này
9. làm vững vàng chắc chắn và gọi là nhà thờ ông thánh Giu-se cùng truyền
10. cho thầy cả đương coi sóc địa phận rày và các thầy cả sẽ coi sóc
11. sau này phải ra sức coi sóc họ này cho một ngày một đi đường nhân đức
12. hơn nữa song le việc chung phải có kẻ cai quản và có thứ tự cùng có
13. lề luật phép tắc cho nghiêm trang mới được tốt lành cho nên các kẻ ăn mày
14. thông công trong họ này phải ra sức giữ những điều đã chép trong sách lề luật
15. về họ này thì mới trông cho được vững vàng chắc chắn mà chớ.
16. Nhân danh Cha và Con và Phi-ri-tô Sang-tô [11]. Amen.
17. mà cho ai nấy được lấy làm chắc chắn thì thầy đã đóng  con chấm cùng phê
18. tên thầy và tên ký lục thầy trong tờ này
19. Từ
20. Đức Chúa Giê-su ra đời là một nghìn tám trăm sáu mươi sáu năm.
—-
Bản dịch của nhóm Thiên Hùng Sử Bùi Chu.
Có nhiều chữ phiên âm trong mà bản dịch đã diễn nghĩa nên tôi thêm chú thích để các bạn yêu thích Hán Nôm có thể xem.
NHÂN DANH ĐỨC CHÚA TRỜI. AMEN.
Linh mục [1] tu sĩ [2] Barnabe Garcia Cezon Khang, [3] OP [4]
Nhờ ơn Thiên Chúa và ơn Đức Giáo Hoàng [5] Làm Giám mục hiệu toà [6] Byblus [7]
Cùng làm Giám mục hạt đại diện Tông tòa [8] Trung Đàng Ngoài (Địa phận Trung) trong nước Annam
Xin cầu cho kẻ đang xem tờ này được bình yên cùng ban phép lành [9] Giám mục cho kẻ ấy nữa.
Vậy thầy dùng quyền Tông Tòa [10] của mình đã được truyền cho.
Mà lấy họ ông thánh Giuse đã lập từ trước trong làng Quần Anh hạ này. Làm nên một nhà thờ vững vàng chắc chắn, gọi là Nhà thờ ông thánh Giuse.
Thầy cũng truyền cho các linh mục đang coi sóc địa phận xứ (tức Quần Phương).
Cùng các linh mục sẽ coi sóc trong tương lai, từ rày phải ra sức coi sóc họ này sao cho giáo dân trong họ này càng ngày càng tiến nhân đức hơn nữa.
Song việc chung của họ giáo phải có người cai quản, phải có thứ tự, phải có lễ luật phép tắc cho nghiêm trang thì mọi việc mới tốt lành được.
Vậy các giáo hữu trong họ là người chịu các phép đạo Thánh, cùng hiệp thông với Hội Thánh, thì phải ra sức giữ những điều thầy sắc lệ luật phép tắc Hội Thánh.
Thầy rất mong vâng bậc chăn chiên giáo hữu mình.
NHÂN DANH CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN [11]. AMEN.
Vậy để mọi người bảo đảm, thì thầy sẽ đóng dấu trên thư này, cùng ký tên mình, và của thầy linh mục thư ký của thầy nữa.
Làm vào năm Chúa Giáng sinh 1866.
[đóng dấu và ký tên
Barnabe Cezon Đức Thầy Khang O.P.
Giám mục Đại diện Tông Tòa
Dominicus Cụ Quản
Thư ký]
—-
Chú Thích về các phiên âm Nôm trong bản gốc
[1] nguyên văn: Pha-tê-r, phiên âm từ chữ Pater (cha)
[2] Pha-ra-tê-r, phiên âm từ chữ Frater (anh em, cách tu sĩ gọi nhau)
[3] Ba-na-bê Ga-r-thi-a Lô-xôn Khang = Berbabe Garcia Cezon, tên Việt là Khang, giám mục quản nhiệm địa phận tông tòa Trung Đàng Ngoài, 1864-1879.
[4] Dòng ông thánh Do/Đô-minh-cô/gô bây giờ gọi là dòng Đa Minh hay dòng Anh em Thuyết giáo (OP).
[5] Đức Thánh Pha-Pha, gốc từ chữ Papa (tên thân mật gọi Đức giáo hoàng)
[6] Nguyên văn chỉ ghi Vít-vồ, gốc từ chữ obispo (giám mục), không có chữ “hiệu toà”, nhưng trước năm 1960, các giám mục đóng vai trò giám quản tông tòa (đại diện giáo hoàng để cai quản) nên tất cả là hiệu tòa (lấy danh nghĩa một tòa giám mục cổ xưa ở Tiểu Á hoặc Bắc Phi không còn tồn tại).
[7] Bi-phi-li-én-xây (Byblus)
[8] Vi-ca-ri-ô A-phô-xút-tô-li-cô, phiên âm từ chữ Vicarius Apostolico (giám quản tông tòa, giám mục đại diện tông tòa)
[9] Phép Biên-song, từ chữ bencaõ tiếng Bồ (phép lành)
[10] A-phô-xút-tô-li-ca, phiên âm từ chữ Apostolica (thuộc về thẩm quyền Toà Thánh)
[11] Phi-ri-tô Săng-tô, phiên âm từ tiếng Bồ Spirito Santo (Chúa Thánh Thần)

Nguồn: FB Anh Q Tran


Hai cách phiên âm chữ "Apostolico"

 Nhân tìm hiểu về cách phiên âm chữ Apostolico, tôi tìm thấy hai cách viết chữ Nôm cùng với hai cách phiên âm sau đây trong sách "Cải táng hài cốt các Đấng tử đạo tại hai giáo xứ Trung Thành và Hưng Nghĩa giáo phận Bùi Chu" như sau:








Nguồn: FB Kinh Việt 


Chứng thư tại nhà thờ họ Phú An năm 1910

 


1 Nhân danh Đức Chúa Trời. A Men.
2 Tôi là thầy cả Đô Minh Gô Quí đang coi sóc xứ Liên Thuỷ đã được phép
3 Đức Thầy Trung Vi Ca Ri Ô A Phô Xôn To Li Cô Địa Phận Trung trong
4 Nước An Nam ban cho (...) Mình Thánh Đức Chúa Giê Su trong
5 Nhà thờ Ông Thánh Giu A Kinh Họ Phú An Hằng Năm Khi Lễ Quan Thầy
6 và khi Làm Phúc Vì Vậy Ngày Mười Bảy Tháng Bảy Năm Canh Tuất là ngày
7 lễ quan thầy họ ấy thì đã để
8 Mình Thánh tại Nhà thờ này lần trước hết mà cũng đã có trùm trưởng làm chứng nữa
9 Nhân Danh Cha Và Con Và Phi Ri Tô Săng Tô. A Men.
10. Mà cho ai nấy được lấy làm chắc chắn thì cụ đã đóng con chấm cùng phê
11. tên cụ vào tờ này.
12. Từ
13. Đức Chúa Giê Su ra đời là một ngàn chín trăm mười (1910) năm.


Ảnh của Địch Dzuy Khôi, bản phiên âm của  Nguyễn Thanh Gia Huy

Nguồn: https://www.facebook.com/groups/474183959420147/user/100004051788950?locale=vi_VN

Bài văn khắc trên bia đá ghi sự tích Lm. Inhaxiô Nguyễn Ngọc Tuyên

 



Bản nguyên văn - phiên âm - dịch nghĩa của NTS:


- Nguyên văn:

降生壹千玖百壹年零
恭誌
聖號衣那吹烏靈牧,兼參辦閣臣阮大人
貫輔越社,繄自幼年,超乎凢世,托俗童身,妙金鎚玉琢之雅化,捿身修院,學先師往聖之格言。於嗣德年間,奉隨鑒官,適於西土,該國音字老通,羅星聖史閑習,侯從鑒官,直到鱸瑪城殿,伏謁教皇,面見,躡歸葩𱓜省城。降生一千八百六拾五年,職封聖爵,正權,居在法國年零,返迴本國,正意遵講聖教,接皇帝旨,欽領參辨閣臣,政行,國君愛慕。數年之後,奏請辭職,告退原銜,講蒞教人。適咸宜元年七月,匪徒扇亂,擾害教人,遇匪致命,至於楊祿教堂。
鳴呼!遭彼運屯,嗟呼及矣,謹以牌誌。
成泰拾叁年陸月初捌日,歲次辛丑造。
右輔越社參辨閣臣阮之牌
靈牧江包卑吹些學
靈牧𠀧蘇盧迷烏仁
靈牧茱移權仝謹誌。

- Phiên âm:

Giáng sinh nhất thiên cửu bách nhất niên linh
Cung chí
Thánh hiệu Y na xuy ô Linh mục, kiêm Tham biện các thần Nguyễn đại nhân
Quán Phụ Việt xã, ê tự ấu niên, siêu hồ phàm thế, thác tục đồng thân, diệu kim chùy ngọc trác chi nhã hóa, tê thân tu viện, học tiên sư vãng thanh chi cách ngôn. Ư Tự Đức niên gian, phụng tùy Giám quan thích ư Tây thổ, cai quốc âm tự lão thông, La tinh, thánh sử nhàn tập, hậu tòng Giám quan, trực đáo Lư Mã thành điện, phục yết giáo hoàng, diện kiến, niếp quy Ba Đông tỉnh thành. Giáng sinh nhất thiên bát bách lục thập ngũ niên, chức phong thánh tước chính quyền, cư tại Pháp quốc niên linh, phản hồi bản quốc, chính ý tôn giảng thánh giáo, tiếp hoàng đế chỉ, khâm lĩnh Tham biện các thần, chính hành, quốc quân ái mộ. Số niên chi hậu, tấu thỉnh từ chức, cáo thối nguyên hàm, giảng lị giáo nhân. Thích Hàm Nghi nguyên niên thất nguyệt, phỉ đồ phiến loạn, nhiễu hại giáo nhân, ngộ phỉ trí mệnh, chí ư Dương Lộc giáo đường.
Ô hô! Tao bỉ vận truân, ta hô cập hĩ, cẩn dĩ bài chí.
Thành Thái thập tam niên lục nguyệt sơ bát nhật, tuế thứ Tân Sửu tạo
Hữu Phụ Việt xã Tham biện các thần Nguyễn chi bài
Linh mục Giang bao ti xuy ta Học
Linh mục Ba tô lô mê ô Nhân
Linh mục Chu di Quyền đồng cẩn chí


- Dịch nghĩa:

Năm Thiên Chúa giáng sinh 1901,
Kính ghi

Linh mục Thánh hiệu Y Na Xuy Ô (Inhaxiô), kiêm chức Tham biện các thần Nguyễn đại nhân

Quê quán xã Phụ Việt, từ nhỏ đã siêu vượt thế tục, gửi thân đồng tử, khéo xây nền giáo hóa thanh nhã như dùi vàng mài ngọc, ở tu viện học tập lời răn của bậc tiên sư, vãng thánh. Niên hiệu Tự Đức, phụng mệnh theo quan Giám mục sang phương Tây, thông thạo tiếng nói, chữ viết nước ấy, lại học làu chữ La tinh cùng Thánh sử, sau theo quan Giám mục thẳng đến điện thành La Mã, yết kiến Giáo hoàng, được ngài gặp mặt, rồi trở về tỉnh thành Ba Đông (?). Năm 1865, [ngài] thụ phong Linh mục, ở Pháp mấy năm, rồi trở về nước, chuyên tâm giảng dạy thánh giáo. Tiếp thánh chỉ của Hoàng đế, ngài khâm lĩnh chức Tham biện các thần, thi hành chính sự, được vua yêu mến. Sau vài năm, ngài tấu xin từ chức, lui về làm chức cũ, giảng dạy khắp giáo dân. Tháng 7 năm Hàm Nghi thứ nhất, giặc cướp làm loạn, quấy nhiễu, giết hại giáo dân, ngài bị giặc giết ở giáo đường Dương Lộc.

Than ôi! Gặp phải buổi vận gian truân, việc đã thế ấy [biết phải làm sao]! Nay kính cẩn ghi lại sự tích.

Lập ngày mùng 8 tháng 6 năm Thành Thái thứ 13 (1901), tức năm Tân Sửu

Bài vị của Tham biện các thần họ Nguyễn, người xã Phụ Việt
Linh mục Giang bao ti xuy ta (Gioan Baotixita) Học
Linh mục Ba tô lô mê ô (Phêrô) Nhân
Linh mục Chu di (Giuse) Quyền cùng kính ghi.


+++

Bài viết của GS Nguyễn Lý Tưởng:

BÀI VĂN KHẮC TRÊN BIA ĐÁ GHI SỰ TÍCH LM INHAXIÔ NGUYỄN NGỌC TUYÊN
tử đạo tại Dương Lộc, Quảng Trị ngày 8/9/1882 do ba người học trò của ngài là Gioan Baotixita Ngô Văn Học, Batôlômêô Nguyễn Phùng Nhơn và Giuse Nguyễn Ngọc Quyền phụng lập năm 1901. (GS Nguyễn Lý-Tưởng dịch từ Hán văn ra tiếng Việt.)

Phiên âm Hán văn:

“Giáng Sinh nhất thiên cửu bách linh nhất. Cung chí, Thánh hiệu Inhaxiô Linh Mục kiêm Tham Biện các, quán Phụ Việt xã, ế tự ấu thời siêu hồ phàm thế, thác tục đồng thân, diệu kim trùy ngọc, trác chi nhã hóa, nõa thân tu viện học tiên sư Kinh Thánh chi cách ngôn. Ư Tự Đức niên gian, phụng tùy Giám quan chu ư Tây thổ, cai quốc âm tự, lão thông La tinh, thánh sử nhàn tập, hậu tùng Giám quan trực đáo La Mã thành điện, phục yết Giáo Hoàng diện kiến, nhiếp quy Ba Năng tỉnh thành. Giáng Sinh nhất thiên bát bách lục thập ngũ niên chức phong thánh tước, chính quyền. Cư tại Pháp quốc linh niên, hồi bản quốc, chính ý tôn giảng Thánh giáo, tiếp Hoàng đế chi chiếu khâm lãnh Tham biện các thấn, chính hành, quốc quân ái mộ. Sổ niên chi hậu, tấu thỉnh từ chức, cáo thối, nguyên thuật giảng lỵ giáo dân thích. Hàm Nghi nguyên niên, thất nguyệt, phỉ đồ phiến loạn, nhiễu hại giáo dân, ngộ phỉ trí mạng chí vu Dương Lộc giáo đường.
“Ô hô! Tao bỉ vận truân, ta hồ cập hỉ, cẩn dĩ bi chí.
Thành Thái thập tam niên, lục nguyệt, sơ bát nhật, tuế thứ Tân Sửu, tạo chi.
Hữu Phụ Việt xã, Tham Biện các thần Nguyễn.
Linh Mục Gioan Baotixita Học
Linh Mục Batôlômêô Nhơn
Linh Mục Giuse Quyền

Dịch nghĩa:

“Năm Thiên Chúa giáng sinh 1901, nay cung kính ghi chép vào bia đá như sau:
Linh Mục Inhaxiô kiêm chức tham Biện, quê quán ở xã Phụ Việt (hữu), tỉnh Quảng Bình, từ nhỏ đã là người siêu phàm, sớm bỏ đời đi tu, mài vàng dũa ngọc được nên tốt đẹp, uốn nắn thân mình ở chốn tu viện để học Kinh Thánh với các bậc tiên sư.

“Dưới thời Tự Đức, theo Giám Mục đi qua Tây, am hiểu quốc âm (Hán tự), làu thông La tinh, thường lúc nhàn rỗi thì học Kinh Thánh. Ngài theo Giám Mục đến thành La Mã, yết kiến Đức Giáo Hoàng, sau đó trở về Pe năng (Mã Lai). Năm 1865 (1) chính thức thọ phong Linh Mục, ở tại Pháp mấy năm rồi trở về nước lo giảng dạy đạo Thánh. Nhận được chiếu chỉ của Hoàng đế, lãnh chức Tham Biện, thi hành chính trị được vua ái mộ. Mấy năm sau, xin từ chức, trở về lo việc đạo, được giáo dân quý mến. Tháng Bảy, Hàm Nghi Nguyên niên (1885) bọn giặc cướp nổi loạn, nhiễu hại giáo dân, ngài bị giặc giết tại nhà thờ Dương Lộc.

“Than ôi! Bởi gặp vận xấu nên phải gian truân! Vậy kính cẩn ghi chép lại sự tích.
Năm Thành Thái thứ 13 tháng 6 ngày 8 tức năm Tân Sửu (1901) làm bia nầy.
Các học trò của quan Tham Biện họ Nguyễn, người xã Phụ Việt (hữu) là:
Linh Mục Gioan Baotixita Học
Linh Mục Babôlômêô Nhơn
Linh Mục Giuse Quyền
Đồng lập bia nầy.

(Chú thích: Theo theo tài liệu chính thức của Giáo phận Huế: Cha Nguyễn Ngọc Tuyên chịu chức Linh Mục vào ngày 17/2/1864 tại Đại chủng viện Mans (Pháp), về Huế năm 1865. Văn bia ghi ngài chịu chức Linh Mục năm 1865 là không đúng. Theo văn bia ghi Cha Tuyên bị quân Văn Thân giết vào tháng 7 âm lịch, chính xác là ngày 8 tháng 9 năm 1885)

- Ảnh: Dương Thanh Đạt