Kinh dâng mọi người dân An Nam cho Đức Bà Maria Đồng Trinh

KINH DÂNG MỌI NGƯỜI NƯỚC AN NAM CHO ĐỨC BÀ MARIA ĐỒNG TRINH

 Người Công giáo Việt Nam, cách riêng giáo dân miền Bắc, không ai là không thuộc lời kinh "dâng mọi người dân An Nam cho Đức Bà Maria Đồng Trinh".

Cho đến nay, không ai biết xuất xứ chính xác của bản kinh này. Tuy nhiên, ít nhất, vào tháng Sáu năm 1925, Đức Giám Mục Pierre-Jean-Marie Gendreau Đông, M.E.P. Đại diện Tông tòa Hà Nội, đã cho phép nhà in Kẻ Sở xuất bản và phổ biến bản kinh này rộng khắp Giáo phận Hà Nội.​

phailamgi_100 năm phổ biến bản kinh dâng mọi người dân nước An Nam cho Đức Mẹ_cv1.jpg

Đức Giám Mục Pierre-Jean-Marie Gendreau Đông, M.E.P. 
Đại diện Tông tòa Hà Nội (1924-1935)

Điều đáng lưu ý, cho đến nay, ngoài một số từ ngữ đã được sửa đổi do sự thay đổi tất yếu về ngôn ngữ, nội dung bản kinh vẫn giữ nguyên:

Lạy Rất Thánh Đức Bà Mẹ Đức Chúa Trời và Mẹ chúng con, nay chúng con sấp mình xin dâng cho Mẹ rất nhân từ trót mình chúng con, là thân sức, sự sống, các việc làm và mọi sự thuộc về chúng con. Lại chúng con cũng lấy lòng con cái mà dâng cho Đức Mẹ mọi miền trong dân nước Việt Nam này.

Trước là xin Đức Bà làm Mẹ các linh mục, cùng những người giúp việc giảng đạo thánh, để mọi đấng bậc được lòng sốt sắng, làm gương sáng và chịu khó lập công cho bền lòng. Lại xin làm Mẹ các bổn đạo, và phù hộ cho các con cái hằng được thêm nhiều, và tiến tới đi đàng nhân đức một ngày một hơn. Sau hết, xin làm Mẹ những ai còn đi đàng lạc mà đưa về sự sáng thật là đạo thánh Đức Chúa Trời.

Chớ gì hết mọi người trong nước Việt Nam này, nhờ Máu cực châu báu Con Đức Mẹ đã đổ ra mà cứu chuộc, và nhờ công nghiệp Đức Mẹ cầu bầu, mà được tìm đến cùng Trái Tim Cực Trọng Đấng Cứu Thế là cội rễ sự nên lành nên thánh, để sau nên một đoàn chiên theo một Chúa chiên.

Đức Bà phù hộ cho kẻ có đạo.

*Cầu cho chúng con.

Đức Mẹ thông ơn Thiên Chúa.

*Cầu cho chúng con.

Nữ Vương nước Việt Nam ngự trên trời.

*Cầu cho chúng con.


phailamgi_100 năm phổ biến bản kinh dâng mọi người dân nước An Nam cho Đức Mẹ_cv2.jpg

phailamgi_100 năm phổ biến bản kinh dâng mọi người dân nước An Nam cho Đức Mẹ_1.jpg


Về nội dung, lời kinh rất dễ đọc và giầu ý nghĩa. Lời kinh không chỉ gồm những ý nguyện riêng tư, cầu cho bản thân, mà còn xin cho mọi thành phần trong dân nước Việt Nam, nhất là những người chưa biết Chúa; cách cụ thể: xin cho các mục tử sốt sáng làm gương, bền chí lập công; xin cho giáo dân thêm nhiều và tiến tới trên đường nhân đức; lại xin cho những người xa lạc được ơn trở về; những người chưa nhận biết Chúa được gặp Chúa.

Có thể nói, lời kinh này, cùng với các lời kinh đơn sơ bình dị khác, đã góp phần nuôi dưỡng đức tin của biết bao thế hệ người Công giáo Việt Nam hàng trăm năm nay, cách riêng vào những thời điểm khó khăn của lịch sử Giáo hội, những lúc Giáo hội miền Bắc bị cấm cách.

Tiếc rằng, những lời kinh ấy, cách riêng, kinh "dâng nước An Nam (Việt Nam) cho Đức Bà Maria Đồng Trinh" đang ngày càng vắng bóng nơi các gia đình, trong các thánh đường.

Mong sao, trong năm thánh hy vọng 2025, để "cùng nhau loan báo Tin Mừng", lời kinh Dâng mọi người dân nước An Nam cho Đức Mẹ lại được vang lên khắp nơi trên đất nước này, để nhờ Mẹ, mọi người tìm đến với Chúa Giêsu, Cứu Chúa của chúng ta.​
Nguồn: https://phailamgi.com/threads/100-nam-pho-bien-ban-kinh-dang-moi-nguoi-dan-nuoc-an-nam-cho-duc-me.3678/#post-5522

Bàn về chữ “Đức” trong Nôm Công giáo




Bàn về chữ “Đức” trong Nôm Công giáo

Trong văn bản Nôm, ta thường gặp chữ “Đức” trong các danh xưng tôn kính, ví dụ: Đức Chúa Trời, Đức Mẹ, Đức Phật Thích Ca, Đức Thái Thượng Lão Quân, Đức vua, Đức thánh Trần...

Ở đây, chữ Đức (德) không được sử dụng theo nghĩa danh từ chỉ “đạo đức”, “nhân đức” như trong ngữ nghĩa truyền thống của chữ Hán (chữ Nho), mà vận hành như một từ đệm tôn xưng (honorific prefix / reverential marker), đặt trước danh xưng, chức vị hoặc tước hiệu, nhằm biểu thị sự kính trọng dành cho những bậc được tôn kính trong trật tự văn hóa – tôn giáo.

Về phương diện ngữ dụng học, có thể nhận diện hai cấp độ biểu thị sự tôn kính trong hệ thống xưng hô tiếng Việt truyền thống:

Mức rất kính trọng:
• Trực tiếp: đức
• Gián tiếp: đấng, ngài

Mức kính trọng:
• Trực tiếp: ngài
• Gián tiếp: người

Trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, ông Paulus Huỳnh Tịnh Của ghi nhận:
“Đức: tiếng xưng tặng các đấng cao sang, tài trí; tiếng chỉ việc nhơn lành, lòng lành: Đức Chúa Trời. Để tiếng đức cho trọng đấng bậc, không dám xưng ngay là Chúa Trời, về các tiếng sau này cũng vậy: chúa, vua, thánh, giáo tông, giám mục, cha, thầy, phu tử, ông, mụ, bà (dùng tiếng đức cũng về một ý)” (trang 330)

Đoạn định nghĩa này cho thấy rõ chức năng tôn xưng của chữ “đức”, trong đó yếu tố kính trọng giữ vai trò trung tâm, còn nội hàm “đạo đức” chỉ là một lớp nghĩa phụ, không phải chức năng chính trong các cấu trúc danh xưng.

Về phương diện từ loại học, giới nghiên cứu hiện nay chưa có sự thống nhất trong việc phân loại chữ “đức” theo nghĩa đặc thù này:

1. Từ Điển Việt Nam (Ban Tu Thư Khai Trí, 1971) xếp vào đại danh từ.

2. Linh mục Antôn Trần Văn Kiệm (Giúp đọc Nôm và Hán Việt, 2004) và Tiểu Ban 
Từ Vựng – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, HĐGMVN (2011) xem là mạo từ (quán từ).

3. Một số nhà nghiên cứu khác xếp vào nhóm từ biệt loại (classless particles / special functional words).

Sự bất nhất này phản ánh đúng thực trạng của chữ “đức”: nó không vận hành theo các phạm trù từ loại thông thường, mà thuộc nhóm đơn vị ngữ pháp – ngữ dụng chuyên biệt trong hệ thống tôn xưng.

Trong cách dùng của Công giáo, chữ “đức” chỉ kết hợp với:
1. Danh từ chỉ người: Đức Chúa, Đức Bà, Đức Giáo Hoàng, Đức Giám mục…
2. Danh từ trừu tượng luân lý – thần học: đức tin, đức cậy, đức mến, đức khiết tịnh…

và không bao giờ kết hợp với danh từ chỉ vật hay đồ vật. Điều này cho thấy tính chọn lọc ngữ nghĩa (semantic restriction) rất rõ của đơn vị này.

Về cấu trúc danh xưng, truyền thống trước thế kỷ XX thường dùng: Đức Chúa Giêsu, Đức Bà Maria, Đức Thánh Phapha …

Trong sử dụng đương đại, xuất hiện khuynh hướng giản lược: Đức Giêsu, Đức Maria, Đức Phanxicô.

Tuy nhiên, về mặt chuẩn mực truyền thống, nhiều học giả và người nghiên cứu phụng vụ cho rằng cách giản lược này không hoàn toàn phù hợp với cấu trúc danh xưng cổ điển, vốn gắn “đức” với tước vị hơn là tên riêng.

Tóm lại Trong các bản văn Công giáo, chữ “Đức” vận hành như một đơn vị ngôn ngữ tôn xưng chuyên biệt (specialized honorific marker), biểu thị sự kính trọng theo quy ước văn hóa – tôn giáo, không còn mang nội hàm đạo đức học (virtue ethics) theo nghĩa truyền thống của Nho học. Đây là một hiện tượng ngôn ngữ đặc thù của Nôm Công giáo, nằm ở giao điểm giữa ngữ nghĩa học, ngữ dụng học, Hán-Nôm học và thần học văn hóa.

Về tên thánh Du-minh-gô, thánh Tổ phụ dòng Đa Minh

 


Tấm gạch có khắc tên:
Thánh hiệu Du-minh-gô Thường tử vì đạo

CÁCH VIẾT TÊN THÁNH TỔ PHỤ

Thánh Tổ Phụ ĐA MINH là người Tây Ban Nha, Ngài được thân sinh đặt tên theo tiếng Tây Ban Nha là Domingo. Tiếng La Tinh là Dominicus nghĩa là người thuộc về Chúa. Khi các bậc tiền bối của Dòng đặt chân lên đất Việt, các ngài muốn hội nhập đời sống của Dòng vào nền văn hóa của dân tộc Việt. Vì thế, trên bình diện ngôn ngữ :

1.Các ngài đã phiên âm tên thánh Tổ Phụ thành từng âm tiết rời cho dễ đọc, vì Tiếng Việt là một thứ tiếng “đơn tiết tính”. Tên Tây Ban Nha của Thánh Tổ Phụ là Domingo được phiên âm là Du-min-gô; tên La Tinh là Dominicus thì phiên âm là Đô-mi-ni-cô.

2.Nhưng ở trong tiếng Việt, mỗi âm tiết = với một từ, âm tiết tiếng nước ngoài thì không có nghĩa vì chỉ là đơn vị phát âm, nhưng âm tiết = từ trong tiếng Việt thì có nghĩa như một từ của các tiếng Tây khác. Nếu chỉ phiên âm tên thánh Tổ Phụ thành “Du-minh-gô” hay “Đô-mi-ni-cô” thì quả là chưa thực sự hội nhập vào nền văn hóa Việt Nam, tên gọi của Thánh Tổ Phụ chưa trở thành “từ tiếng Việt”. Chính vì thế mà phải tiến tới bước thứ hai, là sau khi phiên âm, ta phải cho mỗi âm ấy một nghĩa. Đa Minh là tên của thánh tổ phụ được phiên âm ra tiếng Tàu nhưng đọc theo giọng Hán Việt. Người Tàu phiên âm tên riêng Dominic là 多米 [duōmǐ], Hán Việt đọc là Đa Minh. Sau khi mượn âm, đến bước tiếp theo là mượn nghĩa, để từ phiên âm ấy thự sự trở thành từ Hán Việt, hội nhập vào lớp từ tiếng Việt.

Tương truyền rằng khi thân mẫu Thánh Tổ Phụ mang thai thánh Đa Minh, thì bà đã chiêm bao thấy hình ảnh “Con chó ngậm bó đuốc chạy khắp hòan cầu”. Với ý nghĩa của hình ảnh này, các bậc tiền bối của Dòng đã chuyển âm tên gọi thánh Tổ Phụ thành Đa Minh. (Ta hiểu nôm na : “Đa” là nhiều, “Minh” là ánh sáng từ trên ban xuống). Khi chuyển như vậy phần nào giữ được âm gần giống âm gốc, nghĩa cũng có nét nào đó liên quan đến cuộc đời và tên gọi của thánh Tổ Phụ. Và việc phiên âm đạt đến đích của nó.

3.Tiếng Việt hiện nay quy định, tên riêng của một người thì phải viết hoa mọi chữ cái đầu, hoặc viết in hoa hết mọi chữ, vì thế tên thánh Tổ Phụ theo tiếng Việt sẽ chỉ được viết là “Đa Minh” hoặc “ĐA MINH”. 

-  Ảnh của Địch Dzuy Khôi

Nguyễn Thụy Đan, nhà nghiên cứu Hán Nôm và lịch sử Đông Á

 


Nguyễn Thụy Đan là nhà thơ và nghiên cứu sinh ngành lịch sử Đông Á tại Đại học Columbia, lớn lên trong môi trường Âu Mỹ nhưng dành trọn đam mê cho Hán Nôm và lịch sử tư tưởng Việt Nam

***

Sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ, Nguyễn Thụy Đan sớm bộc lộ niềm say mê với Hán Nôm và văn chương. Dù không rõ nguồn cơn cụ thể, anh nhớ về những dấu mốc đầu tiên khi tiếp cận cổ ngữ. Lần đầu đặt chân đến Việt Nam ở tuổi 12, anh háo hức nhờ họ hàng tìm thầy dạy chữ Nôm, nhưng không thành. Thay vào đó, anh bắt đầu tiếp cận thông qua hai cuốn tự điển chữ Nôm và Hán Việt của Thiều Chửu. Năm 15 tuổi, trong một mùa hè về Việt Nam giúp việc các dì dòng Đức Bà Truyền Giáo, anh tình cờ được một bà soeur lớn tuổi giới thiệu những bài thơ Đường, mở ra thế giới văn chương mà anh gắn bó đến hôm nay.

Với Nguyễn Thụy Đan, việc tự học Hán Nôm không phải là một thành tích để tự hào hay khoe khoang, mà đơn giản là một phản ứng tự nhiên trước hoàn cảnh. Hiện là nghiên cứu sinh ngành lịch sử Đông Á tại Đại học Columbia theo diện học bổng, anh tập trung nghiên cứu về diễn ngôn và văn hóa sĩ phu cuối thế kỷ 18 – đầu thế kỷ 19. Đồng thời, anh giảng dạy với vai trò trợ giảng tại Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Á của trường. Bên cạnh công việc nghiên cứu, Nguyễn Thụy Đan còn là một nhà thơ. Năm 2024, tập thơ đầu tay của anh viết bằng tiếng Việt, in illo tempore, được Nhà xuất bản Thanh Niên và FORMApubli ấn hành tại Việt Nam.


Chào Thụy Đan! Anh có nhớ cuốn sách tiếng Việt đầu tiên mình đọc không, và nó đã ảnh hưởng như thế nào đến tiến trình tìm hiểu chữ Nôm của anh?

Tôi không nhớ chính xác, nhưng có lẽ đó là một trong hai cuốn Thánh Giáo Kinh Nguyện và Chân Lý Đời Đời. Thánh Giáo Kinh Nguyện là sách kinh của giáo phận Hà Nội, nhưng bản tôi đọc khi còn nhỏ là một ấn bản rất cũ, trong đó vẫn còn những lời cầu nguyện cho các bậc vua chúa và quan quyền cai trị nước An Nam. Còn Chân Lý Đời Đời là bản dịch từ trước tác của Alfonso Liguori – người sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế – với những suy niệm về sự ngắn ngủi và phù du của kiếp người, về cái chết, về sự thối rữa của xác thân… Câu trả lời này có lẽ hơi bất ngờ, nhưng nếu phân tích kỹ, tôi nhận ra mình đã chịu ảnh hưởng không ít từ những cuốn sách ấy. Ngay từ nhỏ, tôi đặc biệt thích lối văn nôm na trong các sách kinh Công giáo, tất nhiên là phong cách hành văn của thời trước, chứ không phải cách viết ngày nay. Có lẽ chính điều đó đã thôi thúc tôi tìm hiểu về chữ Nôm. Đọc nhiều sách như vậy cũng dần định hình cách tôi nhìn nhận và sử dụng tiếng Việt.

- Tác giả: Lê Lâm

Đọc toàn bộ bài viết theo đường dẫn:

https://www.tatlerasia.com/power-purpose/impact/nguyen-thuy-dan-researcher-of-han-nom-and-east-asian-history-vn